Không ít thực phẩm quen thuộc trong bữa cơm hằng ngày được Y học cổ truyền sử dụng như những vị thuốc với công năng riêng, trong đó có bổ thận. Hoài sơn, bí ngô và hẹ là những ví dụ điển hình.
Nếu hoài sơn nổi bật với công năng kiện tỳ, ích phế, bổ thận thì bí ngô được nhắc đến với công năng bổ trung ích khí, ích tinh; hẹ lại thiên về ôn trung, hành khí, bổ thận dương. Việc sử dụng những thực phẩm này cần dựa trên thể trạng và mục đích cụ thể, đồng thời không nên đồng nhất công năng theo Y học cổ truyền với tác dụng điều trị bệnh theo y học hiện đại.
ThS. BS. LY. Nguyễn Đình Thục, Phó Viện trưởng Viện Đông y Việt Nam.
1. Củ mài (hoài sơn) - Vị thuốc kiện tỳ, ích phế, bổ thận
- Hoài sơn còn có tên gọi khác là: Củ mài, khoai mài, sơn dược.
- Tên khoa học là Dioscorea persimilis Prainet Burkill.
- Theo y học cổ truyền, hoài sơn có vị ngọt, tính bình, quy vào 4 kinh tỳ, vị, phế và thận, được sử dụng với tác dụng kiện tỳ tăng cường tiêu hóa, dưỡng vị sinh tân, bổ phế, ích khí, định suyễn, chỉ khái, bổ thận, cố tinh, mạnh gân xương.
Đây là vị thuốc quen thuộc, trong bài thuốc Lục vị và Bát vị của Danh y Trương Trọng Cảnh (Trung Quốc) đã được Danh y Hải Thượng Lãn Ông biến phương thành trên 20 bài thuốc, chữa rất nhiều chứng bệnh, trong đó bài nào cũng có hoài sơn. Đồng thời hoài sơn cũng được dùng làm thực phẩm trong một số món ăn truyền thống, như hoài sơn (củ mài) luộc chấm mật ong, nấu canh sườn hoài sơn, nấu cháo chè hoài sơn, nấu cháo thịt hoài sơn, bổ dưỡng cho mọi lứa tuổi, tốt cho người cao tuổi thận yếu, đau xương khớp, tâm phế mạn, suy nhược cơ thể, người mới ốm dạy.
Về dinh dưỡng, hoài sơn cung cấp tinh bột, chất xơ, protein, lipid, axit amin cùng một số vitamin và khoáng chất. Dược liệu này còn chứa polysaccharide và một số hợp chất thực vật đang được nghiên cứu về các hoạt tính sinh học. Hoài sơn có thể được chế biến thành món ăn hoặc sử dụng trong các bài thuốc cổ truyền tùy theo mục đích và thể trạng.
2. Bí ngô - Ích tinh

Hoài sơn, bí ngô và hẹ là những thực phẩm quen thuộc có công năng bổ thận. Ảnh AI.
- Bí ngô: Tên khác là bí đỏ, bí rợ, nam qua, phặc đeng (Tày), má ứ (Thái), bí sáp).
- Tên khoa học là Cucurbita moschata (Duch. ex Lam.) hoặc Cucurbita pepo L., thuộc họ Bầu bí (Cucurbitaceae).
- Thành phần hóa học: Bí đỏ cung cấp beta-caroten – tiền chất của vitamin A, cùng vitamin C, E, B1, B2, B6 và một số khoáng chất như kali, magie, sắt, kẽm. Beta-caroten có thể được cơ thể chuyển đổi thành vitamin A, góp phần duy trì thị lực, chức năng miễn dịch và sức khỏe của da, niêm mạc. Bí đỏ và hạt bí cũng chứa nhiều hợp chất sinh học, trong đó có các carotenoid, polyphenol và các chất chống oxy hóa khác. Hạt bí cung cấp protein, acid amin và chất béo không bão hòa.
Theo y học cổ truyền, quả bí ngô có vị ngọt, tính ôn; quy vào các kinh tỳ, vị và đại trường; công dụng bổ trung ích khí, giảm mỡ máu, dưỡng huyết và hỗ trợ tiêu hóa, giải khát, tiêu viêm, hỗ trợ điều trị tiểu đường và phòng ngừa xơ vữa động mạch. Hạt bí ngô hỗ trợ thận khí và sinh lý nam, ích tinh và hỗ trợ tiền liệt tuyến.
Bí ngô có thể chế biến thành canh, súp, món hấp hoặc kết hợp với các loại rau củ khác trong bữa ăn. Đây là thực phẩm dễ sử dụng và phù hợp với nhiều chế độ ăn.
Cách dùng trong món ăn:
- Canh bí ngô nấu thịt, sườn băm: Bí ngô gọt vỏ, cắt miếng vừa ăn, hầm nhừ cùng thịt heo giúp bồi bổ cơ thể, tăng cường sinh lực.
- Chè bí ngô đậu xanh: Nấu nhuyễn bí ngô với đậu xanh và nước cốt dừa, tạo món ăn thanh mát giải nhiệt.
- Bí ngô xào tỏi hoặc bò: Xào chín tới giữ lại độ giòn ngọt tự nhiên, kích thích tiêu hóa.
Lưu ý: Người có cơ địa thấp nhiệt, không nên ăn quá nhiều bí ngô vì tính ôn có thể gây động phong, sinh nhiệt, đầy bụng. Người đang bị vàng da, ăn nhiều bí ngô chứa hàm lượng beta-caroten cao có thể khiến da bị sậm vàng (tuy nhiên hiện tượng này vô hại và sẽ hết khi ngừng ăn). Người tỳ vị hư hàn nặng hoặc đang tiêu chảy cấp nên hạn chế dùng chung với các dược liệu hoặc thực phẩm có tính hàn lạnh mạnh (như cua, ốc) để tránh rối loạn tiêu hóa.
3. Hẹ - Bổ thận dương
- Hẹ có tên khác: Cửu thái, khởi dương thảo, cửu thái tử, nén tàu, hom xe lép (Thái), phắc kép (Tày).
- Tên khoa học là Allium odorum L. (hoặc Allium tuberosum Roxb.), thuộc họ Hành (Alliaceae).
Trong Đông y, hẹ có vị cay, hơi chua, tính ấm (ôn); quy vào các kinh can, vị và thận; giúp ôn trung hành khí, bổ thận tráng dương và giải độc, giúp tiêu mủ, hỗ trợ tiêu hóa, giảm đau tức ngực bụng, đầy chướng.
- Bổ thận, tráng dương: Hạt và lá hẹ hỗ trợ trị di tinh, mộng tinh, tiểu tiện nhiều lần, đau lưng mỏi gối.
- Giải độc, tán ứ: Trị ho, tiêu đờm, cầm máu (chảy máu cam, tiểu ra máu), giải độc nhọt độc.
Đây là loại rau gia vị quen thuộc, thường xuất hiện trong các món ăn hằng ngày. Hẹ chứa vitamin K, vitamin C, folate và các hợp chất chứa lưu huỳnh tạo nên mùi vị đặc trưng. Những thành phần này góp phần tạo nên giá trị dinh dưỡng của nhóm rau họ hành.
Hẹ có thể dùng làm rau, gia vị hoặc kết hợp với trứng, thịt, hải sản và các món canh. Trong y học cổ truyền, công năng bổ thận trợ dương của hẹ, được lựa chọn tùy theo thể trạng và mục đích sử dụng.
Kiêng kỵ: Người âm hư hỏa vượng, người hay bốc hỏa, sốt về chiều, lòng bàn tay bàn chân nóng, ra mồ hôi trộm không nên dùng nhiều. Người có bệnh về mắt hoặc mụn nhọt mới phát (thể nhiệt), tính ôn ấm của hẹ có thể làm tăng thêm triệu chứng nóng nhiệt và cần tránh kết hợp với các thực phẩm hoặc dược liệu có tính đại nhiệt (quá nóng) nếu cơ địa đang bị nhiệt độc.
Mời bạn xem thêm video:
Những thói quen tốt cho thận cần thực hiện ngay nếu muốn có thận khỏe | SKĐS


