Viêm tụy cấp là tình trạng các men tụy tự hủy mô. Bình thường, các men tụy amylase, lipase, trypsin được tuyến tụy tiết để hỗ trợ tiêu hóa thức ăn.
Ban đầu, các men được tiết ra dưới dạng không hoạt động, chỉ khi đến tá tràng, các enzyme này mới được hoạt hóa và có tác dụng. Tuy nhiên, một lý do nào đó làm các tế bào nang tuyến tuỵ tăng nhạy cảm đáp ứng với axit, cholecystokinin, acetylcholine, khiến các men này hoạt hóa ngay trong lòng ống tụy, chuyển thành dạng hoạt động, tấn công và phá hủy các mô của tuyến tụy, dẫn đến viêm tụy cấp.
1. Nguyên nhân thường gặp gây bệnh viêm tuỵ cấp
Các nguyên nhân thường gặp gây viêm tuỵ cấp gồm:
- Bệnh đường mật do sỏi hoặc giun: chiếm 40-50%.
- Uống rượu chiếm 20 – 30%.
Ngoài ra, các nguyên nhân ít gặp hơn có thể do:
- Chấn thương vùng bụng.
- Các bệnh lý gây tổn thương mạch máu nhỏ như bệnh tiểu đường, bệnh lupus ban đỏ.
- Các bệnh có tăng lipid máu như hội chứng thận hư hoặc nhóm các bệnh rối loạn chuyển hoá lipid máu.
- Các rối loạn chuyển hoá: tăng calci huyết như cường tuyến cận giáp.
- Nhiễm vi rút (quai bị, CMV, EBV).
- Do thuốc.
- Do dị ứng.
- Có một số trường hợp không xác định được nguyên nhân.
2. Triệu chứng viêm tuỵ cấp
Các triệu chứng của viêm tuỵ cấp gồm:
- Đau bụng: Do căng tuyến tuỵ, do thoát dịch sau phúc mạc hay do viêm phúc mạc: Các cơn đau thường khởi phát đột ngột, sau 1 bữa ăn no, nhiều mỡ, sau 1 bữa tiệc; đau thường có tính chất cấp tính, dữ dội; đau vùng trên rốn, bên trái, lan ra lưng trái.
- Buồn nôn và nôn với các tính chất: nôn nhiều và liên tục. Sau nôn không đỡ đau. Các triệu chứng khác: sốt, nếu xuất hiện sớm trong 2 – 3 ngày đầu; vàng da nếu vàng da nhẹ, kín đáo thường do phù nề ống dẫn chung. Nếu vàng da rõ thường do bệnh đường mật đi kèm do sỏi hoặc do giun; rối loạn nhu động ruột thường có tình trạng liệt ruột và chướng hơi trong ổ bụng; tràn dịch ổ bụng thường gặp ở những ca nặng, có khi dịch cổ trướng có máu. Tràn dịch màng phổi trái ít gặp hơn và cũng có tiên lượng nặng.

Các Bác sĩ BV Bệnh Nhiệt đới Trung ương phẫu thuật cho bệnh nhân nguy kịch do mắc viêm tuỵ cấp và nhiễm trùng đường mật nặng, Ảnh BVCC
3. Biến chứng viêm tuỵ cấp
Viêm tuỵ cấp có thể gây ra các biến chứng như:
- Sốc nếu xảy ra sớm trong những ngày đầu của bệnh, thường do biến chứng xuất huyết hoặc do nhiễm độc các chất kinin. Nếu do nhiễm trùng, sốc thường xảy ra muộn hơn ở tuần thứ 2 của bệnh.
- Xuất huyết tại tuyến tuỵ, trong xoang bụng, trong ống tiêu hoá hoặc ở các cơ quan xa do men tuỵ làm tổn thương các mạch máu, tiên lượng nặng.
- Nhiễm trùng tại tuyến tuỵ thường xảy ra vào cuối tuần đầu hoặc đầu tuần thứ hai của bệnh dẫn đến thành lập ổ áp xe tuỵ và mô hoại tử, tiên lượng nặng.
- Suy hô hấp cấp (ARDS): Tiên lượng nặng.
- Nang giả tuỵ thường xuất hiện vào tuần thứ 4 của bệnh do hiện tượng đóng kén để khu trú tổn thương. Nang giả tuỵ có thể được hấp thu hoặc tự dẫn lưu vào đường tuỵ rồi hết trong 4-6 tuần. Nang cũng có thể tồn tại lâu dài hơn và có thể dẫn đến các biến chứng bội nhiễm khuẩn, áp xe.
- Viêm tuỵ mạn do VTC tái phát nhiều lần, đa số là VTC ở người nghiện rượu. Vì vậy, ở người nghiện rượu phải lưu ý có thể là đợt cấp tính của viên tuỵ mạn.
Lưu ý: Điều trị viêm tuỵ cấp trước tiên cần lưu ý đánh giá mức độ nặng của ca viêm tuỵ cấp vì tiên lượng tử vong của các ca viêm tuỵ cấp nhẹ chỉ vào khoảng 1%, trong khi các ca viêm tuỵ cấp nặng có tỉ lệ tử vong từ 10-15% nếu không có nhiễm trùng và từ 30-35% khi có biến chứng nhiễm trùng.