12 thành tựu gây ấn tượng của ngành ung thư năm 2008

Thời sự
Cuối năm 2008, trong một Hội thảo về ung thư (UT), 21 chuyên gia hàng đầu của Hội UT lâm sàng Hoa Kỳ đã nhận xét và đồng thuận 12 thành tựu lớn,

Cuối năm 2008, trong một Hội thảo về ung thư (UT), 21 chuyên gia hàng đầu của Hội UT lâm sàng Hoa Kỳ đã nhận xét và đồng thuận 12 thành tựu lớn, gây ấn tượng mạnh mẽ trong công tác phòng chống UT năm 2008. Đây là những nghiên cứu thực sự mang lại lợi ích cho con người trong lĩnh vực điều trị và phòng ngừa UT.

1. Vai trò của Erbitux trong điều trị UT phổi

UT phổi được xem là UT xấu. Chẩn đoán xác định UT phổi dạng không phải tế bào nhỏ giai đoạn tiến xa (III, IV) là một tin buồn. Nghiên cứu trong năm 2008 cho thấy: ở người bệnh mà khối u phổi có thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (Epidermal growth factor receptor) EGFR ( ), sử dụng kết hợp Erbitux với hóa trị làm tăng thời gian sống thêm lên hơn 21%. Erbibux (Cetuximab) là thuốc mới trong liệu pháp nhắm trúng đích phân tử. Đây là một kháng thể đơn dòng đánh vào đích nhắm là EGFR của khối u.

2. Vai trò của Gemzar trong điều trị UT tụy

Thông thường, UT tụy cũng là một UT xấu. Chỉ có khoảng 5% người bệnh sống 5 năm sau khi chẩn đoán và chữa trị. Một tổng kết lớn trong năm 2008 cho thấy: UT tụy giai đoạn sớm và mổ cắt được khối u, hóa trị bổ túc với Gemzar làm gia tăng gấp đôi thời gian sống thêm ổn định. Gemzar (Gemcitabine) một thuốc mới thuộc nhóm chống biến dưỡng, an toàn và ít tác dụng phụ.

3. Vai trò của Treanda trong điều trị bệnh bạch cầu lymphô mạn

Bạch cầu lymphô mạn (BCLM) là dạng UT máu diễn tiến chậm, hay gặp ở người bệnh tuổi trung niên. Treanda là thuốc đặc trị được sử dụng điều trị BCLM trong 30 năm qua ở Âu châu. Nghiên cứu quốc tế đa trung tâm cho thấy: Treanda là thuốc có hiệu quả cao. 30% người bệnh BCLM đã được điều trị tốt.

4. Vai trò của Avastin trong điều trị UT vú di căn

Avastin là thuốc mới thuộc nhóm kháng sinh mạch (Angiogenesis inhibitor). Avastin (Bevacizumab) có tác dụng làm đói mô bướu qua cơ chế chống lại hiện tượng tăng sinh mạch máu đến nuôi bướu. Tháng 3/2008, Cơ quan kiểm soát

Thuốc và Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) cho phép sử dụng Avastin kết hợp với hóa trị có Taxol cho người bệnh UT vú giai đoạn trễ, có di căn, mà thụ thể HER2 âm tính. Tổng kết nghiên cứu năm 2007 cho thấy: Avastin hóa trị có Taxol đã đạt hiệu quả gấp đôi so với điều trị Taxol đơn thuần.

5. Vai trò của nội tiết liệu pháp dài ngày với UT vú

Từ lâu, điều trị nội tiết với thuốc kháng estrogen (Tamoxifen) trong 3-5 năm có thể dự phòng tái phát UT vú. Những nghiên cứu gần đây cho thấy: nội tiết liệu pháp với Tamoxifen hoặc thuốc kháng men Aromatase (như Femara, Arimidex) càng lâu càng có hiệu quả hơn.

6. Vai trò của Zometa trong điều trị UT vú

Nghiên cứu năm 2008 cho thấy: Zometa làm giảm nguy cơ tái phát UT vú ở những phụ nữ tiền mãn kinh đã điều trị nội tiết với Tamoxifen hoặc Arimidex và Zoladex. Zometa (Zoledronic acid) là thế hệ mới nhất của nhóm thuốc Biphosphonates, có tác dụng làm giảm hiện tượng hủy xương và làm tăng sự tái tạo xương của cơ thể.

7. Vai trò của Interferon

Nghiên cứu thử nghiệm ở Âu châu cho thấy: sau một năm theo dõi và điều trị Melanom ác - dạng UT da rất quái ác có chứa hắc tố melamin được mổ cắt bỏ khối u và chữa trị với Interferon (Pegylated Interferon), nguy cơ bệnh tái phát giảm 18% so với phẫu trị đơn thuần.

8. Vai trò của Erbitux trong điều trị UT đại tràng

Những nghiên cứu năm 2008 đã cho thấy: dùng Erbitux kết hợp với hóa trị sau mổ đã cải thiện kết quả điều trị UT đại tràng di căn rõ rệt.

9. Viên thuốc ngừa thai làm giảm nguy cơ UT buồng trứng

Hồi cứu 45 nghiên cứu về việc sử dụng thuốc viên uống ngừa thai cho thấy: chị em phụ nữ có uống thuốc ngừa thai dài ngày, thì cứ 5 năm dùng thuốc, nguy cơ bị UT buồng trứng giảm 20%.

10. Vắc xin HPV có thể ngăn ngừa UT hốc miệng

Nghiên cứu trong năm 2008 cho thấy: UT hốc miệng có liên hệ với HPV (Human Papilloma Virus: gây u nhú ở người) khuynh hướng tăng cao ở những người có quan hệ tình dục bằng đường miệng thường xuyên. Vắc xin HPV có giá trị phòng ngừa UT cổ tử cung, cũng có khả năng phòng ngừa UT hốc miệng.

11. Nguy cơ thiếu hụt bác sĩ chuyên khoa ung bướu

Các chuyên gia ASCO dự báo: đến mnăm 2020, số lượng người bệnh UT tăng 55%, trong khi số lượng BS. Ung bướu được huấn luyện đào tạo tăng chậm.

12. Vấn đề chăm sóc và theo dõi trẻ sau khi điều trị UT

Một trong những thành công kỳ diệu trong cuộc chiến chống UT là số lượng trẻ em sống còn sau khi kết thúc điều trị bệnh UT trẻ em ngày càng nhiều. Nghiên cứu gần đây cho thấy: sau 30 năm chẩn đoán và chữa trị bệnh UT trẻ em, số trẻ còn sống mắc bệnh tim nhiều gấp 5-10 lần so với các trẻ em khác. Lý do: tác dụng phụ lâu dài của hóa trị hoặc xạ trị UT. Cha mẹ các cháu nhỏ bị UT và các thầy thuốc UT cần lưu ý vấn đề này. Một điều đáng mừng: hầu hết các thuốc mới nêu trên đều có tại các bệnh viện, cơ sở y tế chuyên khoa nước ta. Giá thành rất cao nên việc sử dụng cần cân nhắc kỹ và có ý kiến chuyên môn phù hợp.

(Theo 2008’s 12 Major Cancer Advances. WebMD Health News, 16/12/2008)

BS. Trần Chánh Khương

Hóa trị có vai trò quan trọng trong điều trị UT.


Ý kiến của bạn