Cột mốc 1.000 ca vi phẫu
Sáng 15/9, Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội tổ chức lễ kỷ niệm ca vi phẫu, phẫu thuật chỉnh hình xương thứ 1.000 và 30 năm triển khai phẫu thuật chỉnh hình xương tại bệnh viện.
Đây là dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển các kỹ thuật chuyên sâu của bệnh viện, đặc biệt trong hai lĩnh vực được đánh giá là khó hàng đầu của chuyên ngành Răng Hàm Mặt: vi phẫu và phẫu thuật chỉnh hình xương.
Ca vi phẫu thứ 1.000 được thực hiện trên nữ bệnh nhân 43 tuổi, được chẩn đoán u men xương hàm dưới trái. Người bệnh được phẫu thuật cắt u, cắt đoạn xương hàm dưới và tạo hình bằng vạt xương mác vi phẫu.

Các bác sĩ Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội thực hiện ca vi phẫu , phẫu thuật chỉnh hình xương cho người bệnh. Ảnh: Trà My
Để thực hiện những ca bệnh như vậy, phẫu thuật viên không chỉ cần làm chủ kỹ thuật cắt bỏ tổn thương mà còn phải tái tạo đồng thời cấu trúc xương và phần mềm, khôi phục chức năng, hình thể vùng hàm mặt và bảo đảm tính thẩm mỹ cho người bệnh.
Theo các chuyên gia, vi phẫu là kỹ thuật chuyên sâu, thường được chỉ định để tái tạo những khuyết hổng lớn và phức tạp, đặc biệt sau phẫu thuật cắt u hoặc các tổn thương khiến người bệnh mất đồng thời xương và phần mềm.
Kỹ thuật sử dụng một phần tổ chức tự thân ở vị trí khác trên cơ thể, gọi là vạt tự do, để tái tạo vùng khuyết. Dưới kính hiển vi phẫu thuật, các bác sĩ phải khâu nối những mạch máu có kích thước rất nhỏ nhằm tái lập tuần hoàn cho phần mô được chuyển đến.
Đây là kỹ thuật đòi hỏi trình độ chuyên môn cao, sự phối hợp chặt chẽ của cả ê-kíp và khả năng xử trí nhanh chóng những tình huống phát sinh trong quá trình phẫu thuật.
Từ kỹ thuật khó thành thường quy
Một trong những bước phát triển quan trọng của Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội là đưa công nghệ 3D vào lập kế hoạch và tạo hình xương.
Trước đây, bác sĩ chủ yếu xác định phạm vi tổn thương dựa trên hình ảnh 2D. Việc này khiến phạm vi tổ chức cần cắt bỏ đôi khi lớn hơn mức cần thiết, trong khi hình thể giải phẫu sau khi cắt bỏ chưa thể xác định chính xác trước phẫu thuật. Sau khi loại bỏ tổn thương, bác sĩ mới có cơ sở để tính toán và tạo hình phần xương cần ghép.
Giai đoạn 2015-2020, bệnh viện bắt đầu ứng dụng in 3D xương hàm để hỗ trợ uốn nẹp và định hướng cắt, tạo hình xương. Đến nay, quy trình đã phát triển thành một chuỗi số hóa khép kín, từ chụp cắt lớp, dựng hình 3D, lập kế hoạch phẫu thuật trên máy tính, xác định chính xác vị trí khối u và các mặt phẳng cắt ở vùng tổn thương cũng như xương mác, dựng lại phần hàm cần tái tạo đến thiết kế dụng cụ hướng dẫn phẫu thuật.
Công nghệ này cho phép bác sĩ "mô phỏng" cuộc phẫu thuật trước khi bước vào phòng mổ, qua đó tăng độ chính xác, hạn chế những sai số không cần thiết và giúp quá trình tái tạo phù hợp hơn với giải phẫu của từng người bệnh.

PGS.TS Trần Cao Bính, Giám đốc Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội phát biểu. Ảnh: Thái Bình
Tương tự, trong phẫu thuật chỉnh hình xương hàm, mỗi dịch chuyển của xương đều cần được tính toán chính xác bằng phần mềm 3D nhằm bảo đảm cả chức năng và thẩm mỹ.
Điều quan trọng là kế hoạch phẫu thuật trên môi trường số được chuyển thành những công cụ vật lý có độ chính xác cao, giúp bác sĩ đưa kết quả mô phỏng vào cuộc mổ thực tế.
Theo TS.BS Lại Bình Nguyên, Phó Trưởng khoa Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ, Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội, bệnh viện bắt đầu triển khai kỹ thuật vi phẫu khoảng 18 năm trước. Những năm đầu, mỗi tháng chỉ thực hiện 1-2 ca. Đến nay, kỹ thuật này đã trở thành thường quy với khoảng 2-3 ca mỗi tuần.
Sau 18 năm, bệnh viện đã thực hiện 1.000 ca vi phẫu, phẫu thuật chỉnh hình xương với tỷ lệ thành công trên 96%. Có những trường hợp người bệnh bị tổn thương đồng thời niêm mạc, xương và da. Sau hội chẩn, ê-kíp có thể phải sử dụng hai vạt vi phẫu để tái tạo toàn bộ vùng tổn thương.
TS Lại Bình Nguyên nhớ lại một trường hợp bệnh nhân ung thư có tình trạng tăng đông máu. Sau khi nối tĩnh mạch thuận lợi, khi thực hiện nối động mạch, dòng máu ban đầu tốt nhưng sau đó xuất hiện tình trạng đông máu gây tắc mạch. Ê-kíp phẫu thuật phải cắt và nối lại tới 6 lần để bảo đảm sự sống của vạt mô.
Những trường hợp như vậy cho thấy phía sau mỗi ca vi phẫu thành công là sự chuẩn bị kỹ lưỡng, khả năng xử trí tình huống và sự kiên trì của cả ê-kíp.

TS.BS Lại Bình Nguyên, Phó Trưởng khoa Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ, Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội chia sẻ tại hội thảo. Ảnh: Thái Bình
Người bệnh được thụ hưởng y tế kỹ thuật cao ngang tầm quốc tế, nhưng giá cả Việt Nam
Phát biểu tại buổi lễ, PGS.TS Trần Cao Bính, Giám đốc Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội, cho rằng 30 năm đối với một kỹ thuật chuyên sâu không đơn thuần là một dấu mốc thời gian, mà là hành trình của trí tuệ, bản lĩnh, sự kiên trì và tinh thần đổi mới, sáng tạo của nhiều thế hệ thầy thuốc.
Từ những bước đi đầu tiên trong phẫu thuật chỉnh hình xương hàm mặt, các thế hệ bác sĩ của bệnh viện đã từng bước làm chủ nhiều kỹ thuật khó, phát triển các phương pháp hiện đại trong vi phẫu, phẫu thuật tạo hình, tái tạo và chỉnh hình xương hàm mặt.
"Mỗi ca bệnh là một thử thách. Mỗi cuộc phẫu thuật là một lần thầy thuốc phải vận dụng tổng hợp kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, công nghệ và trước hết là trách nhiệm đối với người bệnh", PGS.TS Trần Cao Bính chia sẻ.
Theo ông, con số 1.000 ca vi phẫu, phẫu thuật chỉnh hình xương được thực hiện thành công không chỉ là một con số chuyên môn. Đó là 1.000 câu chuyện của người bệnh, 1.000 niềm hy vọng được trao gửi và 1.000 gia đình đặt niềm tin vào người thầy thuốc.
"Trong y học, thành công không chỉ được đo bằng số lượng ca phẫu thuật. Thành công còn được đo bằng những cuộc đời đã được thay đổi, những khuôn mặt đã được tái tạo, những chức năng đã được phục hồi, những nụ cười đã trở lại và niềm tin của người bệnh được gìn giữ", Giám đốc Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội nhấn mạnh.
Theo PGS.TS Trần Cao Bính, việc làm chủ các kỹ thuật tiên tiến đã giúp nhiều người bệnh được điều trị ngay trong nước, thay vì phải ra nước ngoài. Các kỹ thuật khó từng bước được triển khai thường quy, tiệm cận trình độ của những nước tiên tiến trong khu vực, trong khi chi phí điều trị cho người bệnh chỉ khoảng 1/5-1/6 so với ở nước ngoài.

Các đại biểu tham dự lễ kỷ niệm. Ảnh: Thái Bình
Bệnh viện Răng Hàm Mặt TW Hà Nội đang từng bước hiện thực hóa mục tiêu trở thành bệnh viện chuyên sâu kỹ thuật cao vào năm 2027. Để đạt mục tiêu này, bệnh viện tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu, cập nhật và ứng dụng các kỹ thuật, công nghệ tiên tiến vào điều trị.
Theo Giám đốc bệnh viện, trong bối cảnh y học thế giới phát triển nhanh, phẫu thuật hàm mặt đang đứng trước những yêu cầu mới. Người bệnh không chỉ mong muốn được điều trị khỏi bệnh mà còn kỳ vọng quá trình điều trị an toàn hơn, chính xác hơn, ít xâm lấn hơn, phục hồi nhanh hơn và mang lại chất lượng cuộc sống tốt hơn.
"Chúng ta không thể khẳng định và không hài lòng với những gì đã đạt được. Mục tiêu không dừng lại ở việc làm chủ các kỹ thuật tiên tiến, mà phải từng bước sáng tạo, cải tiến, đóng góp những kỹ thuật mang dấu ấn của chính người Việt Nam", PGS.TS Trần Cao Bính nói.
Hoàn thiện thể chế, chuẩn hóa chất lượng, đẩy mạnh giám sát – yêu cầu cấp thiết của ngành Răng Hàm Mặt