Ý nghĩa nhân văn của Tết Việt

Suckhoedoisong.vn - Ngoài phạm vi chính trị, các lễ hội dân gian xuất phát từ thời tiết, tôn giáo, tín ngưỡng và phong tục tập quán. Ở phương Tây đậm màu Kitô giáo, có một số lễ hội chính: Tết Dương lịch, ngày 1/1 đón mừng mùa xuân.

Ngoài phạm vi chính trị, các lễ hội dân gian xuất phát từ thời tiết, tôn giáo, tín ngưỡng và phong tục tập quán. Ở phương Tây đậm màu Kitô giáo, có một số lễ hội chính: Tết Dương lịch, ngày 1/1 đón mừng mùa xuân. Niềm hân hoan này đặc biệt sôi nổi đến với những dân tộc chịu nhiều tháng ngày lạnh giá. Thí dụ, ở Thụy Điển, ngày mùa đông chỉ có mặt trời trong khoảng 6 tiếng. Người ta ngong ngóng đợi mùa xuân, Tết chủ yếu là vui chơi với bạn bè thân thuộc ở nhà hay ở các tiệm ăn. Lễ Phục sinh (tháng 3) thể hiện niềm vui Chúa Giê-su sống lại, cũng là lễ hội xuân, được tưởng tượng bởi màu trắng (biểu hiện ánh sáng và sự thanh khiết). Ngày Tháng Năm (1/5) là hội xuân chính thức, mở đầu mùa xuân với niềm vui những ngày ấm áp. Có nơi bầu Hoàng hậu Mùa Xuân, trồng cây Tháng Năm, rồi đi quanh múa hát... Lễ Các Thánh (Toussaint) ngày 1/11 cũng là ngày tưởng niệm người chết, người ta đi tảo mộ. Lễ Noel (25/12) mừng chúa Giê-su giáng sinh, tổ chức trong gia đình ấm cúng, cũng là dịp tặng quà. Lễ Tạ ân Chúa (mùa thu) của người Mỹ là lễ mừng được mùa, thường tổ chức bữa ăn đông người.

Những niềm hân hoan và biểu tượng của lễ hội phương Tây tôi vừa kể trên đều hội tụ ít nhiều ở Tết Việt, điều mà khi tôi giải thích cho các bạn nước ngoài, họ rất ngạc nhiên về vị trí quan trọng của Tết trong sinh hoạt tinh thần và vật chất của dân tộc ta. Ngoài ra, Tết Việt Nam còn mang nhiều nét Á Đông không có trong những lễ hội phương Tây.

Làm thế nào người nước ngoài thông cảm được cái rạo rực tâm linh đồng cảm của cả một dân tộc “ăn Tết”. Tết có ma lực gì mà từ bao đời nay, Tết khiến cho mọi người Việt Nam tạm thời quên hết ưu phiền để cùng nhau cảm thông trong niềm vui cộng đồng, tỏa ra từ gia đình bao trùm làng xóm, quê hương, đất nước? Trước Tết và sau Tết, các bến ôtô, ga xe lửa, sân bay người đông như kiến. Việt kiều khắp thế giới háo hức về quê hương. Lại phải có thêm nhiều chuyến bay đặc biệt cho họ ở Thủ đô. Một bộ phận kinh tế không nhỏ tập trung sản xuất và phân phối hàng Tết, chợ Tết, nhất là chợ hoa, là một nét văn hóa đẹp. Hàng chục, hàng trăm xe tải chở lá dong từ rừng về xuôi để gói bánh chưng. Báo Tết thi nhau tăng trang, tăng tiền mà vẫn bán hết. Không khí thoải mái vui chơi bắt đầu từ trước Tết, kéo dài mãi sau Tết, nhất là ở nông thôn.

Bác sĩ quân y Pháp Hocquart có mặt ở Việt Nam cách đây hơn một thế kỷ đã nhận định: “Trong gần một tháng, người bản xứ giàu hay nghèo đều ngừng công việc để ăn uống vui chơi. Chấm dứt buôn bán, làm đồng, công việc phu phen vất vả. Người lớn, trẻ con đều mặc bộ đồ đẹp nhất của mình. Người nghèo nghĩ cách bán đồ để có tiền sắm Tết. Trẻ con vui mừng vì được mừng tuổi phong bao giấy đỏ. Chỗ nào cũng gặp màu đỏ, màu vui sướng”.   

Tết ta là một hiện tượng xã hội học phản ánh bản sắc dân tộc ta khá toàn vẹn. Bác sĩ điều trị tâm bệnh P.Fermi (Pháp) nghiên cứu văn hóa truyền thống Việt Nam nhận định: Tết là một biểu tượng văn hóa tiêu biểu, một thành tố quan trọng của tư duy Việt.

Chỉ xin nêu hai nét tổng hợp khiến Tết Việt Nam mang tính nhân văn đậm hơn từng lễ hội dân gian phương Tây: tính canh tân và tính nhân ái. Lắng sâu trong tiềm thức dân tộc từ xa xưa, Tết đối với người Việt Nam là một cái mốc để canh tân, niềm hy vọng đổi mới cuộc đời. Phải chăng Tết đánh dấu sự cảm thông giữa con người với thiên nhiên bằng một tình cảm thiêng liêng, huyền bí, khiến con người hòa nhập vào vũ trụ trong niềm hồ hởi tâm linh của tiết xuân? Tình cảm vũ trụ ấy đã thấm nhuần tâm tư và hành động của cả một dân tộc trong dịp Tết. Một dân tộc vẫn còn gắn bó với ruộng đất, với thiên nhiên hơn các dân tộc phương Tây công nghiệp hóa.

Từ bao đời, vụ mùa gặt xong, đất và người được nghỉ ngơi đôi chút để rồi lại lao vào một năm lao động vất vả. Vạn vật hồi sinh đổi mới. Đổi mới với con người là vứt bỏ cái xấu năm cũ, mong mỏi cái mới là cái tốt lành. Điều này thể hiện trong một số phong tục tập quán, sự kiêng kỵ. Bàn thờ, nhà cửa phải lau chùi, dọn dẹp sạch sẽ; mồ mả phải dọn cỏ, đắp thêm đất, sửa sang lại. Lễ giao thừa phải có bát nước trong để cúng. Tế lễ ở đình, đi chùa để cảm thông với trời đất, thần phật. Có tục tắm nước mùi ngày 30 Tết là để người trong sạch bước sang năm mới. Cúng ông Táo thuộc tín ngưỡng thờ lửa, ngọn lửa đốt sạch các nỗi đau khổ. Cùng tạo vật vui tươi, con người hân hoan đổi mới.

Năm mới cũng thể hiện lòng nhân ái, tình người. Trước hết là tình gia đình, quê hương. Tình gắn bó giữa người sống với người chết: ông bà ông vải được chống gậy “mía” về ăn Tết với con cháu. Trong nhà, bố mẹ kiêng đánh mắng con cháu. Mẹ chồng tai ác cũng dịu giọng với nàng dâu. Trong lòng, nếu không ưa nhau, gặp nhau cũng chào hỏi một câu. Vợ chồng giận nhau thì cố làm lành. Dĩ chí, trong chiến tranh, đôi bên cũng tạm ngừng tiếng súng trong mấy ngày Tết. Nợ nần không đòi vào ngày Tết. Khách lạ đến cũng mời trà, mời bánh. Những tục lệ khai bút, khai trương là điều nói lên ý nguyện làm ăn tử tế trong năm mới...

Để giải thích thêm hiện tượng này, có thể áp dụng luận điểm của Freud chăng? Tâm lý đám đông, cộng đồng bị chi phối bởi hai xung năng (tiếng Pháp pulsion, tiếng Anh là drive) là hai năng lượng mang tính bản năng: Xung năng hung tính, phá hoại, đưa đến cái chết (thanatos), như thời Hitler hay Khơme Đỏ; Xung năng ưu ái (éros) là năng lượng cảm xúc gắn bó con người với nhau trong tiềm thức đồng loại. Tết Việt phải chăng biểu hiện xung năng thứ hai?      

Nhà văn hoá Hữu Ngọc

Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Ý nghĩa nhân văn của Tết Việt

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐỌC NHIỀU NHẤT