Bài dự thi “Sự hy sinh thầm lặng”:

Xơ Mậu

Trong tứ chứng nan y thì cùi (hủi, phong) là đáng sợ nhất, vì người bệnh phải chứng kiến cái chết dần chết mòn của mình, chịu đau đớn thể xác và nhất là bị cộng đồng ghẻ lạnh, ruồng bỏ. Nhẹ thì còn che giấu được, đến lúc cơ thể sưng vù lên hoặc teo tóp lại, răng rụng,
Trong tứ chứng nan y thì cùi (hủi, phong) là đáng sợ nhất, vì người bệnh phải chứng kiến cái chết dần chết mòn của mình, chịu đau đớn thể xác và nhất là bị cộng đồng ghẻ lạnh, ruồng bỏ. Nhẹ thì còn che giấu được, đến lúc cơ thể sưng vù lên hoặc teo tóp lại, răng rụng, mũi cụt, rụng từng đốt ngón tay ngón chân, môi sưng húp, mắt sụp mí, đỏ ngầu… thì dù thương xót mấy vẫn bị xua đuổi khỏi cộng đồng. Ngày xưa có nơi đào hố đổ vôi hoặc cho bè chuối trôi sông. Trên miền Thượng Tây Nguyên, buôn làng bảo nó thành con ma lai rồi, bỏ vào rừng sâu với ít lương thực vật dụng mang theo, đoạn tuyệt không cần biết sống chết ra sao. Ngay bây giờ, hầu hết các gia đình gửi người thân bị cùi đến trại cũng phó mặc, ít khi lui tới thăm nom, khỏi bệnh về nhà vẫn bị hắt hủi. Gia đình, hàng xóm nhìn bằng ánh mắt nghi ngờ, “biết đâu đấy!”, thế thì chỉ còn cách ngậm ngùi khăn gói trở lại Làng Cùi mà thôi.

Ngày nay, y học khẳng định bệnh cùi là do vi trùng Hansen gây nên, không di truyền và rất khó lây. Điều trị khỏi chỉ trong vòng 2 năm bằng Dapsol theo phác đồ điều trị của OMS. Song thiên hạ vẫn sợ, “tránh xa như tránh hủi”. Vì vậy, những người gắn bó với bệnh nhân cùi hẳn có một tình thương lớn lao lắm, gần như là định mệnh.

Những năm 1978, 1979, khi  còn công tác ở Trường Đại học Dược Hà Nội, tôi được giáo sư Đỗ Tất Lợi cử vào Lâm Đồng điều tra cây thuốc, có ghé thăm Trại cùi Di Linh và được một linh mục cho xem cuốn sách Lạc quan trên miền thượng của tác giả Phùng Thanh Quang. Được biết Giăng-cát-xanh (Gioan Cassaigne) là cố đạo người Pháp đầu tiên lên miền Thượng Đồng Nai truyền đạo. Ông bắt gặp những bệnh nhân cùi trần truồng la hét, giãy giụa tuyệt vọng với vết thương lở loét, lúc nhúc giòi bọ giữa rừng sâu. Ông gom họ về buôn Ka Long, Gung Ré, phía đông thị trấn Di Linh, Lâm Đồng để chăm sóc, chữa trị và Làng cùi Di Linh ra đời từ đấy (1927).

Năm 1978, tôi đến thăm Làng Cùi thì Giăng đã mất được 5 năm, xơ Mậu đã 10 năm thâm niên ở Làng Cùi cùng 7 nữ tu khác thuộc dòng Vinh Sơn kế tục sự nghiệp của ông. Sau này chuyển công tác về Sở Y tế Lâm Đồng, tôi cũng có nhiều dịp trở lại Làng Cùi và được xơ Mậu đón tiếp. Năm 2000, nghe tin bà đi dự Đại hội Thi đua toàn quốc, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu nói: “Bà phải được phong tặng 2, 3 lần anh hùng mới xứng đáng”, và 2006, Nhà nước trao tặng bà danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới.

Quyết định viết bài báo này, tôi tìm gặp bác sĩ Nguyễn Tất Ứng, Phó Giám đốc Trung tâm Truyền thông y tế tỉnh Lâm Đồng để xin giấy giới thiệu gặp xơ Mai Thị Mậu cho danh chính ngôn thuận. Bác sĩ Ứng gạt đi: “Ấy chết, không được!”. Tôi ớ ra ngạc nhiên. Bác sĩ Ứng cười, hạ giọng: “Bà ấy không thích nói về mình, anh sẽ bị từ chối ngay”.

Ngày 26/8/2010, tôi từ Đà Lạt nhảy xe buýt đi Di Linh, xe tốt lại vắng khách, thật thú vị, khác hẳn những năm trước xuống huyện công tác vất vả quá. Đường từ thị trấn Di Linh vào Trung tâm điều trị phong đã được trải nhựa từ năm 1993 bằng 2 tỷ kinh phí của Nhà nước. Hàng cột điện thẳng tắp vươn cao tỏa sáng suốt đêm. Dân Làng Cùi đã được nếm que kem, xem tivi. Hai bên đường, nhà tầng san sát, rải rác mái ngói đỏ của các biệt thự lấp ló giữa rừng cà phê xanh um. Đúng là bãi bể nương dâu, mới đấy đã thành “ngày xưa” rồi. Cách thị trấn Di Linh một cánh đồng lúa nước, rộng chưa đầy 1 cây số, mùa khô lội bộ ngang qua dễ dàng, còn đường núi ngoằn ngoèo thì 4 cây. Vâng, chỉ 4km thôi mà Làng Cùi là một thế giới khác, một ốc đảo côi cút. Nhiều lần ngồi Com-măng-ca của Sở trên con đường đất đỏ lầy lội, anh em cán bộ y tế chúng tôi vẫn bảo nhau, rồi đây con đường này mang tên xơ Mậu mới đúng.

Anh xe ôm vui miệng nói với tôi:

- Nội cái huyện Di Linh này, hỏi xơ Mậu, ai mà không biết. Dân vẫn gọi là dì Mậu và Làng Cùi gọi bà là mè Mậu (mè, tiếng K’ho là mẹ).

- Bà ấy tốt ở điểm nào? – Làm như không quen, tôi tranh thủ khai thác.

- Điểm nào cũng tốt hết!

Tôi cười thầm sau lưng người lái xe. Thế thì chịu rồi, cái gì cũng tốt mới khó viết đây.

Ra đón tôi, xơ Mậu vẫn lanh lẹ như ngày nào, mắt to, sáng, từng trải, hơi nghiêm nghị sau mục kỉnh, nhưng nụ cười ấm áp, cởi mở vẻ mẫn cán. Tôi nói với bà, tôi cũng đã về hưu lâu rồi, đời người chẳng ai lập trình trước được từng chặng, nhưng gắn bó với mỗi chặng là do mình. “Đúng thế!”, tâm đắc với ý kiến này, bà kể với tôi đã vào nghề như thế nào.

 Xơ Mậu và bệnh nhân cùi.

Mai Thị Mậu sinh năm 1942 ở Hải Hậu, Nam Định, 12 tuổi theo gia đình vào Sài Gòn và tiếp tục học hết phổ thông. Đang rỗi rãi chờ kết quả thi tốt nghiệp thì có cô bạn rủ đến Bệnh viện Nhi Đồng thăm đứa cháu bị bệnh. Chứng kiến những đứa trẻ đau đớn kêu khóc, sao mà lắm bệnh, lắm người bệnh thế, cô nảy ra ý định học y để chăm sóc họ. Thế là nhận được bằng tốt nghiệp xin ngay vào dòng Nữ tử Vinh Sơn theo học nghề y tá. Năm 1968 tốt nghiệp, xung phong lên miền Thượng và đến Làng Cùi này.

Di Linh ngày ấy vắng lắm, định mổ con heo phải đi dạm trước các nhà, đủ mới dám xả thịt. Dân cư thưa thớt, hầu hết là thiểu số bản địa: K’ho, Chăm, Mạ… chưa qua giai đoạn bán khai. Đồng Nai Thượng là vùng ma thiêng nước độc, Làng Cùi vẻn vẹn mấy lán gỗ thưng lợp lá, đêm nằm nghe hổ gầm voi rống. Dân quanh vùng cấm kị không dám bén mảng với ý nghĩ dưới tán cây thâm u kia, những thân phận xấu số, què cụt nửa người nửa ma đang thoi thóp, ngắc ngoải chờ chết. Xơ Mậu 27 tuổi, từ biệt Sài Gòn hoa lệ, khăn gói nhảy xe đò đến Di Linh vào một buổi chiều mưa cuối năm. Xuống xe lầm lũi trên con đường lầy vào Làng Cùi, đặt những bước chân đầu tiên của cuộc hành trình nhân ái trên con đường định mệnh mà một nữ tu khổ hạnh đã lựa chọn dấn thân.

Đêm đầu tiên chân ướt chân ráo đến Làng Cùi, chúa đã thử thách bà. Một bệnh nhân trở dạ. Bệnh viện, nhà hộ sinh thì xa, mà có đến thì nhân viên y tế cũng đuổi như đuổi tà, từ chối đỡ đẻ cho người cùi. Bà Ka Mát, người K’ho nằm tênh hênh trên nền nhà, bàn tay không ngón cào trên nền đất ẩm, một chân cụt đến gối, dạng háng. Một đống lùng nhùng, nhóng nhánh. Thai nhi thò ra nửa đầu cùng dạ con sa xuống. Tay trái xơ Mậu ấn dạ con vào, tay phải kéo thai nhi ra. Trầy trật mãi, cuối cùng được đền đáp bằng tiếng khóc oa oa chào đời của bé gái mà sau này có tên Ka Ron. Tội cho xơ Mậu, khi học lại thực tập ở nhà thương Tây, các sản phụ đầm không cho người An Nam đụng tay vào, thành ra chỉ đứng nhìn. Sau ca đẻ ấy, xơ Mậu về Bệnh viện Từ Dũ Sài Gòn học đỡ đẻ, tính đến nay, xơ đã cắt rốn cho hàng trăm đứa trẻ, mẹ tròn con vuông, không bị di truyền, uốn ván hoặc xảy ra băng huyết như trước. Những đứa trẻ này lớn lên, lập gia đình, bà lại đỡ đẻ cho chúng. Đỡ cho mẹ, cho con, cho cháu nữa… 2 - 3 thế hệ Làng Cùi chào đời trên tay xơ Mậu.

Nhiều lần tôi thấy bệnh nhân nâng bát cơm bằng bàn tay trụi ngón, kề lên miệng đã rụng hết răng, dùng cùi tay kia vỗ vỗ cho những hạt cơm lăn vào miệng, ngửa cổ lấy lưỡi lùa ngọn rau. Mè Mậu đến bên họ, gắp đút thức ăn, dỗ dành từng người.

Là mẹ, có bao giờ kể công tháng ngày, nhưng ai giúp được con em Làng Cùi cái gì, dù rất nhỏ bà cũng mang ơn, mắc nợ họ. Bác sĩ Ứng kể: “Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 năm nào bà cũng dẫn học sinh Làng Cùi mang hoa đến tặng vợ em và cám ơn, mặc dù cô ấy không phải là giáo viên chủ nhiệm”. Những đứa trẻ mới đến trường mặc cảm tụm lại thành nhóm chơi riêng hoặc lủi thủi một mình, xơ đứng ngoài hàng rào nhìn vào sân trường trông rất tội. Nhắc lại với tôi, khi các nhà báo hỏi, phút sung sướng nhất trong cuộc đời của bà là gì, bà trả lời: “Là khi Thủ tướng Võ Văn Kiệt ra chỉ thị “Từ nay các bệnh viện không được từ chối bệnh nhân cùi và trường học phải tiếp nhận con em họ, những cháu không có bệnh hoặc mắc bệnh nhưng đã được chữa trị”. Xơ Mậu đẩy gọng kỉnh lên trán, ngón tay út khẽ chấm giọt lệ ứa ra kẽ đuôi mắt. Vừa hay chuông điện thoại reo, bà vội đứng lên, tất tả chạy về phòng làm việc. Được mấy bước, bà khựng lại, ngoái về phía tôi đang ngồi trong salon phòng khách với lọ hoa tuyệt đẹp: “Mà thôi, sang phòng làm việc của tôi cho tiện!”.

Căn phòng chừng 10m2, bên cạnh chiếc máy vi tính là những chồng sổ sách, báo chí chật chội nhưng ngăn nắp. Từ 2005, xơ Mậu nhận nhiệm vụ mới, Phó Giám đốc Trung tâm Phòng chống bệnh xã hội tỉnh Lâm Đồng, công việc điều hành ở đây giao cho xơ Nguyễn Thị Tiến. Xơ Mậu về huyện Đam Rông mới thành lập, là vùng sâu nhất, tận cùng của tỉnh Lâm Đồng, nhưng vẫn đi đi về về một chốn đôi nơi. “Làm sao tôi bỏ đi được khi họ luôn luôn chờ tôi. Cũng như nếu tôi lấy chồng thì trại phong này chính là gia đình chúng tôi vậy” – xơ Mậu thường nói.

Có lần tôi hỏi xơ Tiến:

- Nghe nói xơ Mậu thích ở đây?

- Nhưng 70 rồi - xơ Tiến nói – Giáo hội phải bứt ra, ở đây bà ấy không được nghỉ.

- Bà ấy làm gì?

- Làm tất cả mọi việc có thể làm, như người mẹ trong gia đình.

Bốn mươi năm sống chung với bệnh nhân cùi mà không lây cũng tài. Hay là có bí quyết gì chăng? Thấy tôi có vẻ tò mò, xơ Mậu kể: Trước đây, công việc của bà là chăm sóc trẻ nhỏ, dạy chúng học, thăm khám vết thương, thay băng, phát thuốc cho bệnh nhân. Vì chưa có kinh nghiệm, một lần vừa ấn ngón tay cái vào cườm cùi thì máu mủ từ cái lỗ sâu hoắm giữa cườm phọt ngay vào mặt.

- Kể mình chịu cũng hay - bà cười tươi – có lẽ chúa thấy mình cần cho người cùi nên phù hộ cho đủ mười ngón tay!

Tôi nghĩ, mấy chục năm nay, xơ đỡ đẻ cho 2 - 3 thế hệ Làng Cùi, nuôi trẻ ăn học, lớn lên lấy vợ gả chồng, lo tang ma cho người già thì bà phải là ân nhân của nhiều người lắm. Nhưng bà lại bảo: “Tôi học được ở họ nhiều chứ!”. Bà học họ sự chịu đựng, chấp nhận đau đớn một cách lặng lẽ, kiên cường. Ông K’Bó ung thư gan, hộc máu, phun hắt vào mặt bà với lời trăn trối cuối cùng: “An khoai!” (Tôi xin lỗi!). Tắt thở không quên một lời xin lỗi, thế mới đáng phục. Không thích nói về mình đã đành, hình như xơ cũng không để ý đến điều tốt của mình mà nhạy cảm với nhân đức của người.

Chính vì san sẻ với nỗi đau của người khác, xơ Mậu nghĩ ra “giày điều trị”, mở hẳn một phòng sản xuất giày đặc dụng cho bệnh nhân cùi. Trước đây, vết thương bàn chân sưng tấy cọ vào đế dép gây đau đớn, nhiễm trùng, nay giày nửa đế, chỉ tiếp xúc với cườm đã thành chai, dễ chịu hẳn. Phòng giày bố trí cạnh khu lý trị liệu. Năm 1997, khi mới ra đời loại giày này, tôi có được nhìn trên tivi, còn gọi là “giày lỗ đáo”, vào đây thấy những người làm cà phê vẫn đi.

Đời sống bệnh nhân cùi là một chuyện dài.

Sau giải phóng 1975, cuộc sống còn khó khăn lắm, mọi việc điều hành do xơ Mậu. Lo ăn lo ở, lo điều trị cho đại gia đình Làng Cùi 357 miệng ăn đâu phải dễ. Mè Mậu dẫn đầu đoàn quân cùi còn lành lặn lên nương làm rẫy, xuống ruộng cấy lúa. Được củ khoai củ sắn nghĩ ngay đến nuôi heo nuôi gà. Vào rừng đốn cây dựng nhà, lầm lũi nín thở tự cứu mình. Bà con quanh vùng thấy xơ mảnh khảnh, đen đủi cũng ái ngại. Bà chỉ cười: “Làm được tất! Cái gì không biết thì hỏi dân, người ta làm được thì mình làm được”.

Cái biển trại cùi dưới chân núi đôi khi cũng gây phiền toái, nó làm hạ giá nông phẩm bà con quanh vùng, nhiều lần bị hạ xuống. Dân Làng Cùi càng mặc cảm, đi sớm tinh mơ, về lặn mặt trời để không ai biết gốc gác của mình, nhất là trai gái đang yêu. Hòa nhập cộng đồng đâu chỉ là vấn đề mưu sinh, còn là đời sống tinh thần, tình cảm nữa.

Năm 1972, xơ Mậu chữa khỏi bệnh cho một điền chủ người Đức quốc tịch Pháp ở Bảo Lộc. Ông bệnh nhân giàu có này hàm ơn:

- Giờ thì tôi biết lấy gì đền đáp xơ đây?

- Tôi là người tu hành, không nghĩ đến tài sản - xơ Mậu trả lời – đến Di Linh thế nào thì cũng nằm xuống đất Di Linh thế ấy, nhưng muốn có mảnh đất cho con em Làng Cùi ra ở riêng, những người không mắc bệnh hoặc đã lành bệnh.

Tình thương có sức mạnh cảm hóa. Lập tức, ông ta bán rẻ cho 53ha rừng ở thôn Gia Lành, xã Gia Hiệp cách Làng Cùi 9km với giá 17 cây vàng. May quá, năm 1989 có đoàn khai hoang phục hóa của Trung ương vào giúp Lâm Đồng, xơ Mậu nhờ vỡ hoang, san ủi. Ai chứ xơ Mậu mà đã nhờ thì họ làm ngay. Tình thương đẻ ra ý tưởng. Ý tưởng trong sáng kéo theo người khác chung tay. Xơ thương người, người thương xơ, tấm lòng rộng mở gõ cửa nào cũng được. Từ 1985 trở đi, cả nước mở cửa làm ăn, kinh tế khấm khá lên, quan hệ quốc tế dễ dàng. Chính quyền địa phương giúp đỡ, các doanh nhân thành đạt tài trợ, các tổ chức từ thiện thế giới hết lòng, nhất là Pháp. Chiến dịch sản xuất rầm rộ bắt đầu vào năm 1989 trên mảnh đất Gia Hiệp. 3 năm sau tự đào được 4 hồ với diện tích 1ha mặt nước, đủ cho 52 hộ (165 nhân khẩu) trồng cà phê, thả bò, nuôi heo. 3 năm liền 1993 - 1994 - 1995, cà phê bội thu, lại được giá (30 ngàn đồng/1kg). Tiền thu được đủ xây sửa 40 căn nhà cũ đã mục nát mà Giăng xây từ 1929 và nhà trẻ, nhà mẫu giáo ở cơ sở mới do các xơ tự thiết kế. Cộng với số tiền tài trợ của tổ chức phi chính phủ Pháp, những ngôi nhà mới xây sơn màu tím đỏ dáng dấp Tây Nguyên mọc lên ngay bên đường quốc lộ 20. Trên xe buýt từ Sài Gòn lên Đà Lạt, quá Di Linh khoảng 8km, nhìn sang bên trái có thể nhận biết dễ dàng.

Nhìn bàn tay không đủ ngón run run mở khoá mời tôi vào nhà mới thấy xúc động. Ngỡ tưởng bỏ xác nơi rừng sâu, nào ngờ giờ lại có đất có nhà. Ngồi dưới bóng cây bách tán ngắm vườn hoa thược dược, nghe các cháu đánh vần, ca múa dưới sự hướng dẫn của các xơ trong căn nhà mới lát gạch hoa mà mát lòng. Ở đây hát Mẹ lên nương là lên nương cà phê thật, chứ không còn là khái niệm. Và hai tiếng Bác Hồ từ vành môi thơ ngây trên mảnh đất Tây Nguyên này khác hẳn ở những thành phố lớn. Thế hệ thứ tư của xơ Mậu đó. Những đứa con của nhiều dân tộc hòa vào nhau theo đúng nghĩa bóng lẫn nghĩa đen. Nhờ bàn tay xơ Mậu và các đồng nghiệp, những người cùi vốn bị hắt hủi đang trở về hòa nhập với cộng đồng một cách ngoạn mục.

Trưa 26/10/2010, tôi tìm đến nhà thờ Đam Rông đang xây, trận địa mới của xơ Mậu, thì được biết bà đã đưa một bệnh nhân nghèo về Trung tâm điều trị phong Di Linh từ sáng. Như mấy chục năm bà vẫn làm, bệnh nhẹ chữa trị tại chỗ, nặng đưa về cơ sở, nặng nữa giới thiệu đi Sài Gòn. Chỉ cần nói xơ Mậu giới thiệu là bệnh viện nào cũng nhận và điều trị miễn phí. Gặp bà là cái phúc cho bệnh nhân nghèo.     

Cũng có nhiều học giả lên Tây Nguyên nghiên cứu về cây thuốc, về dân tộc học, văn hóa cồng chiêng, tượng nhà mồ… hy sinh một phần đời để rồi nổi tiếng. Giống như Giăng-cát-xanh, xơ Mậu gắn bó với Tây Nguyên vì yêu mến mảnh đất này, muốn được sống bên những người cùi. Từ đây đi Di Linh 150km đường rừng, 70 tuổi rồi, đúng là một con thoi. Xơ Mậu, bao giờ xơ mới chịu nghỉ đây?

Tôi định gặp xơ Mậu trao đổi 2 vấn đề: Một là, cùi “rất khó lây” hay “khó phát bệnh” tùy cơ địa?; Hai là từ hơn nửa thế kỷ nay, điều trị phong vẫn chỉ dùng DDS, một sulfamit có biệt dược Dapsol. Phải chăng phong không còn là bệnh “nóng” và ít đem lại lợi nhuận nên các công ty dược không quan tâm sản xuất thuốc mới tốt hơn?

Di Linh, tháng 10/2010

  Bút ký của Chu Bá Nam

Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Xơ Mậu

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐỌC NHIỀU NHẤT