DÒNG SỰ KIỆN

Đường dây nóng:

1900 90 95 duongdaynongyte@gmail.com
0942592738 bandientuskds@gmail.com
Vĩnh biệt hai cây đại thụ trong làng nhạc Việt
06:00 01/07/2015 GMT+7
Suckhoedoisong.vn - Trong ngày 29/6 vừa qua, nền âm nhạc Việt Nam và giới mộ điệu nhiều thế hệ đã liên tiếp đón nhận nỗi buồn lớn khi nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu

LTS: Trong ngày 29/6 vừa qua, nền âm nhạc Việt Nam và giới mộ điệu nhiều thế hệ đã liên tiếp đón nhận nỗi buồn lớn khi nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu - “Con chim vàng của nền âm nhạc Việt Nam” và tác giả ca khúc nổi tiếng Hà Nội niềm tin và hy vọng, nhạc sĩ Phan Nhân từ trần. Trước sự mất mát này, nhà phê bình âm nhạc – nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha đã gửi đến báo Sức khỏe&Đời sống bài viết về hai vị nhạc sĩ đáng kính vừa về với đất mẹ như một sự tri ân, tưởng nhớ,… Xin trân trọng gửi tới quý độc giả!

Nhạc sĩ Phan Huỳnh Ðiểu - Sáng tạo đến tận cùng

Nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu.

Giữa tháng tư 2015, tôi có vinh dự ngồi cùng nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu cùng một Hội đồng bình luận lớn tuổi trong chương trình Giai điệu tự hào. Tôi rất nhớ khi ban trưa ông xuất hiện, tôi đã tự lấy cơm cho ông ăn, pha cà phê sữa cho ông uống. Thần sắc ông khi ấy không có gì để tạo cho tôi tin sự ra đi bất ngờ của ông vào hồi 10h15phút ngày 29/6/2015 này.

Phan Huỳnh Điểu sinh 11/11/1924 tại Đà Nẵng, nhưng quê gốc ở Điện Bàn, Quảng Nam. Ông đã dấn thân vào âm nhạc từ thưở thanh xuân tiền chiến với trường ca Trầu cau. Sau Cách mạng tháng Tám, ông lại dâng hiến một hành khúc Đoàn giải phóng quân (sau đổi là Đoàn vệ quốc quân). Trường kỳ kháng chiến, ông hoạt động âm nhạc ở vùng tự do khu Năm. Thời gian đó, ông đã viết một bài ca, ca ngợi Đảng lao động Việt Nam khi công khai trở lại sau nhiều năm bí mật: “A! Ánh sáng của Đảng ta chiếu rọi bao la - Đảng là muôn năm tỏa sáng - Đảng là muôn ánh đèn pha - soi sáng tâm hồn ta...”.

Sau Hội nghị Geneve, Phan Huỳnh Điểu tập kết ra Bắc để làm ra một thời đại âm nhạc thứ hai của mình như Tình trong lá thiếp, Thật là khó nói... mà đỉnh cao là Những ánh sao đêm. Ngày ấy, nghe Quốc Hương hát: Xây cho nhà cao cao cao mãi... đã thấy cả một tương lai rộng mở của đất nước cho đến hôm nay. Vươn lên tầm cao xây dựng bao nhiêu, Phan Huỳnh Điểu lại cúi xuống những bất hạnh thấp nhất của con người Việt Nam thời chiến tranh. Chính vì lẽ đó ở tuổi “tứ thập bất hoặc”, Phan Huỳnh Điểu chịu dấn thân vào chiến trường khu Năm. Ở đó, trong tiểu ban văn nghệ cùng Phan Tứ, Chu Cẩm Phong, Phan Huỳnh Điểu đã có những tháng năm dâng hiến đến khi không còn trụ nổi. Ông ra Hà Nội mang theo hơi thở chiến trường để đưa vào những ca khúc như Bóng cây Kơ nia (thơ Ngọc Anh), Cuộc đời vẫn đẹp sao (thơ Bùi Minh Quốc), Hành khúc ngày và đêm (thơ Bùi Công Minh).

Đất nước thống nhất đã mang đến cho Phan Huỳnh Điểu một thời kỳ sáng tạo thứ ba rất đời và rất đạo, khi ông vào cư trú tại Sài Gòn. Đấy là thời kỳ trữ tình đẹp đẽ nhất của âm nhạc Phan Huỳnh Điểu. Đất nước thanh bình rồi, chả nhẽ âm nhạc cứ phải ùng oàng mãi sao. Khi ông đọc bài thơ Về miền hạ của nhà thơ Hoài Vũ nhớ về mối tình xưa thất lỡ, Phan Huỳnh Điểu cảm động đã phổ nhạc, cho ra đời một ca khúc trữ tình nổi tiếng Anh ở đầu sông em cuối sông. Cũng chẳng biết giữa Thúy Bắc và Xuân Quỳnh có tình ý gì với Phan Huỳnh Điểu để ông phổ ra Sợi nhớ sợi thương (thơ Thúy Bắc), Thuyền và Biển, Thư tình cuối mùa thu (thơ Xuân Quỳnh). Chỉ biết Phan Huỳnh Điểu là một nhạc sĩ ham yêu và ham sống.

Tôi cực kỳ kính nể đại ca của tôi khi ông vẫn sáng tạo đến tận cùng. Vào Sài Gòn những năm gần đây, tôi rất thích giọng thơ của nữ thi sĩ Trương Nam Chi. Khi đọc thơ cô và phổ nhạc thơ cô, tôi mới nghe Chi tâm sự là: Bác Điểu cũng thích phổ thơ em. Phan Huỳnh Điểu là một bậc thầy phổ thơ trong làng nhạc Việt Nam. Tôi thật kính nể ông khi ông phổ bài thơ Trần Chính thành ca khúc Ở hai đầu nỗi nhớ, kính nể khi ông phổ lại thơ Nguyễn Khuyến, Lưu Trọng Lư... Tôi vẫn luôn băn khoăn vì sao Phan Huỳnh Điểu lại có một sức sáng tạo bền bỉ đến như vậy? Có phải vì tình yêu chung thủy của ông với bà Vân - vợ ông. Bà đã là một bến đợi để ông giăng buồm ra đi trong mọi sáng tạo. Hay bà là thiên thần chắp cánh cho cánh phượng hoàng của ông bay không mỏi cho tới thời khắc cuối cùng. Tất cả đều là sự thật, đều là hư ảo. Nếu nhìn vào những sáng tạo âm nhạc của Phan Huỳnh Điểu, ta đều thấy rõ đó là một nhạc sĩ được “trời cho” như Văn Cao. Ông khác Văn Cao là không truyền đạo qua ca khúc, mà truyền tình yêu mãi mãi của mình qua các sáng tạo âm nhạc. Vì thế, ông đã không ở trong bóng của Văn Cao mà tự ra cái bóng khiêm nhường của một cây đại thụ trong nhân gian.

Nhạc sĩ Phan Nhân - Gửi lại “Hà Nội niềm tin và hy vọng”

Nhạc sĩ Phan Nhân.

Tôi thực sự được gặp Phan Nhân lại không phải ở Hà Nội khi ông viết Hà Nội niềm tin và hy vọng mà là ở Sài Gòn năm 1982. Năm 1972 tháng Chạp, khi ông viết ca khúc nổi tiếng này thì tôi đang là lính trụ bán sông Thạch Hãn - Quảng Trị. Nhưng lúc đó, ca khúc của ông khiến bọn tôi đều thuộc và sau đó dấn thân tiếp vào cuộc xuyên Trường Sơn cho tới ngày thống nhất.

Phan Nhân tên khai sinh là Lưu Nguyễn Phan Nhân. Ông ra đời năm 1930 tại Bình Đức, Long Xuyên, An Giang. Khi nghe tin ông mất vào hồi 11h45phút ngày 29/6/2015, chính là khi tôi đang ngồi với tân Chủ tịch Hội Nhạc sĩ Việt Nam Đỗ Hồng Quân để bàn về sự ra đi của nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu cũng vừa mất vào hồi 10h15phút cùng ngày. Ở tuổi 15, Phan Nhân đã tham gia Nam Bộ kháng chiến và trở thành ca sĩ của tổ quân nhạc khu 8 cùng Minh Trị, Hoàng Việt. Khi tập kết ra Bắc, ông thuộc đoàn Văn công Nam Bộ rồi đoàn Văn công Quân đội Nam Bộ. Trong chương trình giải trừ quân bị sau hiệp định Geneve, Phan Nhân về làm ca sĩ của tốp nam Đài tiếng nói Việt Nam cùng Trần Chung, Thế Song, Văn Dung... Làm ca sĩ mãi, ông cùng các bạn của tốp ca nam đã đi theo gương anh cả Trần Chung để biến mình thành nhạc sĩ. Những ca khúc đầu tiên của Phan Nhân được thu thanh ở Đài tiếng nói Việt Nam là những ca khúc thiếu nhi như Chú ếch con, Em là con gái mẹ Út Tịch. Chính cuộc đọ sức Điện Biên Phủ trên không tháng chạp 1972 tại Hà Nội đã tạo ra tên tuổi Phan Nhân qua ca khúc Hà Nội niềm tin và hy vọng. Hồi ấy, bám trụ tại Đài tiếng nói Việt Nam ở 58 Quán Sứ - Hà Nội, Phan Nhân vừa là người kẻ nhạc những ca khúc Phạm Tuyên viết về sự kiện này như Hà Nội - những đêm không ngủ, Hà Nội - Điện Biên Phủ, nhưng ông vẫn không quên ghi lại cảm xúc của mình về sự kiện ấn tượng ấy qua Hà Nội niềm tin và hy vọng. Ca khúc đã thấm vào những người lính Trường Sơn bởi câu: “Sáng soi bóng đêm Trường Sơn - lắng trong nước sông Cửu Long - dệt nên tiếng ca - át tiếng bom rền”.

Nhờ thành công này, Phan Nhân đã thăng hoa để viết ra những ca khúc tiếp nối như Cây đàn guitar của Victohara, Em ở nơi đâu thời chống Mỹ. Đêm giá buốt Tây Nguyên 1974, nghe Mạnh Hà rền vang: “Cây đàn guitar của Victohara...” cảm thấy lòng mình được trao ngọn lửa đi tới chiến hào. Phan Nhân đâu phải là người miền Bắc nhưng sao ông lại có một giai điệu hết sức Bắc Bộ khi viết về các cô thanh niên xung phong Trường Sơn qua Em ở nơi đâu: “Em ở nơi đâu? Phải qua bao núi qua bao dòng sông sâu - phải qua bao suối qua bao nhịp cầu - để anh đi tìm - hỡi người con gái nắng mưa dãi dầu trên đỉnh Trường Sơn...”. Rồi anh tấu lên chất ngất: “Tuổi xuân em phơi phới - năm xưa đi mở đường - chỉ nghe tiếng hát - mà lòng anh thương...”.

Ngày thống nhất đất nước, Phan Nhân lại viết ra một Tình ca đất nước cực kỳ thăng hoa, bay bổng qua giọng vàng Trần Khánh: “Rằng đã về ta cỏ cây hoa lá ruộng đồng - Cửu Long mênh mông - sông Hồng hát lên ngàn năm ...”. Ôi sao yêu thế những giai điệu chất ngất tình xứ sở này. Vì yêu ông, tôi đã không biết bao nhiêu lần ngồi song tửu cùng ông ở 81 Trần Quốc Thảo - Sài Gòn, 84 Lê Duẩn - Hà Nội, Phan Nhân là một  nghệ sĩ đa cảm kiểu Platonic. Ông suốt đời chỉ yêu bà Phi Điểu. Tình yêu lớn này đã cho Phan Nhân mọi chuyến bay tìm đến sáng tạo.

Tôi viết đến đây sao lòng trĩu nặng buồn. Tại sao cuộc đời lại trắc ẩn đến vậy trong một ngày tràn ngập thương đau.

Nguyễn Thụy Kha

 

 

Tin liên quan
Tin chân bài
Bình luận
TIN CÙNG CHUYÊN MỤC
Xem thêm