Về nơi có “địa chỉ xanh”

Suckhoedoisong.vn - Thường khi ta đi thăm các di tích lịch sử cách mạng - đó là “địa chỉ đỏ”. Có một “địa chỉ xanh” - đó là vườn Kiều ở thành phố Biên Hòa (Đồng Nai) - một vườn văn độc nhất vô nhị. Chủ nhân là ông Nguyễn Bá Khoát.

Tôi thật bất ngờ khi biết trước khi xây dựng vườn Kiều, ông Khoát từng là một nhà doanh nghiệp nổi tiếng nuôi heo ở vùng đất này, được mọi người trìu mến gọi tên là “Ông vua nuôi heo”. Tôi hỏi ông:

- Sao đang là nhà doanh nghiệp ăn nên làm ra, bác lại quay về với thú vui tao nhã này?

Ông già 84 tuổi với dáng người thấp đậm hồng hào còn rất tráng kiện cười vui:

- Tôi giao lại mọi việc điều hành cho con trai từ năm 1995, đến năm 1996 thì bắt tay vào xây dựng vườn Kiều này cũng có lý do riêng. Bắt đầu từ mê Kiều.

Rồi ông kể: Ngày trước, hồi đó mới 25 tuổi ông bị bệnh tim, sức khỏe yếu. Một lần nghe nói đi tắm biển sẽ giúp chữa bệnh, ông bèn thu xếp ra biển. Mang trọng bệnh trong người, lại gặp biển hôm trời lạnh nên ông càng thấy buồn và thường đi dạo dọc bờ biển để giải khuây. Một hôm đang đi thì ông nghe ai đó đọc lên mấy câu thơ hợp với tâm trạng của mình: “Buồn trông cửa bể chiều hôm - Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa - Buồn trong ngọn nước mới sa - Hoa trôi man mác biết là về đâu”; Rồi: “Buồn trông gió cuốn mặt duềnh - Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”. Ông thốt lên: Hay quá, đúng tâm trạng của mình quá! Hỏi ra ông mới biết đó là mấy câu trích từ Truyện Kiều của Nguyễn Du.

Ông Khoát (bên phải) bên bàn thờ Nguyễn Du.

Ông Khoát (bên phải) bên bàn thờ Nguyễn Du.

Thế rồi ông Khoát mê Truyện Kiều đến mức đã từng bỏ tiền túi làm một chuyến du lịch sang tận Trung Quốc tìm đến những nơi mà nhân vật Thúy Kiều đi qua như Giang Tô, sông Tiền Đường, Vô Tích... để thoả trí tò mò. Ông còn lập ra bản đồ và hành trình cuộc đời nhân vật “hồng nhan bạc mệnh” treo ở trong lầu Ngưng Bích để chỉ dẫn cho du khách đến thăm. Ông Khoát kể nhân duyên khiến mình lập ra vườn Kiều: “Năm 1995, tôi đi chúc Tết người bạn vong niên ở gần nhà. Năm đó ông bạn được người cháu ở quê gửi vào biếu cành đào Nhật Tân rất đẹp. Nhìn thấy cành đào, tôi gặp cảnh sinh tình lẩy mấy câu Kiều hợp cảnh hợp người: “Trước sau nào thấy bóng người - Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông”, ông bạn tôi cũng là một tay mê Kiều say đắm ra câu đố: Bây giờ ông giới thiệu điển tích 2 câu Kiều này bằng hình thức thơ lục bát cho dễ thuộc. Ông Khoát ngẫm nghĩ, nếu theo lời giải thích, điển tích 2 câu thơ trên có nghĩa là: Xưa Thôi Hộ đời Đường thi tiến sĩ không đỗ, nhân tiết thanh minh đi chơi gặp người con gái đứng bên gốc đào cho uống nước. Năm sau Thôi Hộ lại tới chốn cũ thì thấy cửa khóa, người vắng bèn làm bài thơ có 2 câu: “Nhân diện bất tri hà xứ khứ - Đào hoa y cửu tiểu đông phong (Bây giờ mặt người không biết đi đường nào - Hoa đào thời vẫn như thế mà cười với gió từ phương Đông tới). Ông Khoát bèn hạ bút ứng khẩu ngay bài lục bát dựa trên nội dung đó tặng ông bạn vì hình như Truyện Kiều đã ngấm vào ông thành máu thịt. Ông viết: “Danh nhân Thôi Hộ đời Đường - Đẹp trai giữ hội lệ thường du xuân - Đi qua xóm nhỏ dừng chân - Ghé nhà gõ cửa ngoài sân đứng chờ. - Để xin nước uống, bất ngờ - Thập thò thiếu nữ muốn đưa cho chàng - Tay Thôi đỡ chạm tay nàng - Ngượng ngùng nàng thẹn má càng đỏ tươi - Năm sau ngày hội xuân qua - Thôi tìm đến xóm đào hoa năm rồi -  Cảnh xưa nay vắng bóng người - Then cài cửa khóa hoa cười gió đông”. Ông bạn hàng xóm khen giỏi, giỏi quá rồi tặng ông Khoát cành đào này. Thật lạ, từ ngày mê Kiều, thuộc Kiều và chép Kiều thì bệnh tim của ông cũng giảm dần như một liều thuốc bổ chữa được bệnh tâm. Ông bạn hàng xóm bảo ông:  Sao vườn nhà ông rộng nhiều cây cối đẹp có tên trong Truyện Kiều mà ông không lập vườn Kiều thành địa chỉ cho chúng tôi đến sinh hoạt  vịnh Kiều? Bắt đầu từ đó ông Khoát cho dựng tượng các nhân vật trong Truyện Kiều và sưu tầm các loại cây có tên trong Truyện Kiều, chọn những câu Kiều hợp tình hợp cảnh gắn biển lên thân cây và tựa để minh họa có sức hấp dẫn trực quan sinh động.

Bước vào ngõ của vườn Kiều, tôi bắt gặp cây liễu xanh tha  thướt trong gió. Cạnh đó là bức tượng chàng Kim Trọng mặc áo xanh  cưỡi ngựa trắng, thong dong lạc bước trong vườn hoa. Phía bên kia là tượng Vương Quan hai tay chắp chào Kim Trọng và tượng hai chị em Thúy Kiều, Thúy Vân đứng e ấp bên nhau dưới bóng liễu. Toàn bộ không gian phối cảnh đó được ông Khoát thiết kế dựa trên cảnh Kim - Kiều lần đầu gặp gỡ trong tiết thanh minh mà thi hào Nguyễn Du đã miêu tả: “Trông chừng thấy một văn nhân - Lòng buông tay khấu bước lần dặm băng” và “Chàng Vương quen mặt ra chào - Hai kiều e lệ nép vào dưới hoa”. Tôi hỏi ông Khoát: Sao bác lại chọn bối cảnh này để giới thiệu với khách tham quan đầu tiên? Ông bảo: Trong Truyện Kiều, tôi cho dựng tượng bốn nhân vật Kim Trọng, Vương Quan, Thúy Kiều, Thúy Vân vì đây là những nhân vật đẹp nhất và cảnh gặp gỡ này đã có một dự báo linh cảm trước về số phận long đong của nàng Kiều sau này.

Ở trong vườn Kiều, ông Khoát cho xây lầu Ngưng Bích hình lục giác có mái lợp ngói với hai cây cầu dẫn lên lầu. Lầu Ngưng Bích là nơi Tú Bà đưa Kiều ra đó, ép Kiều tiếp khách và nàng đã tự tử mà không thành. Khi thấy tôi hỏi sao có hai con chó bằng sứ ở trước cây cầu thì ông Khoát giải thích: Ở đây tôi cho viết lại 2 câu thơ trong Truyện Kiều:Trước là Bạc Hạng, Bạc Bà - Bên thì Ưng Khuyển bên là Sở Khanh” và “Khuyển Ưng đã dắt mưu gian - Đưa nàng xuống trước để an dưới thuyền”. Ra thế, loài khuyển chính là con chó. Cái ác, cái thiện cứ đan xen nhau. Những câu thơ khắc họa rõ nét và sắc cạnh cứ như thấy sờ sờ trước mặt mình bóng dáng của một thời, dư âm của một số phận.

Ông Khoát lập bàn thờ Nguyễn Du, lại đắp bức tượng thân mẫu của thi hào là bà Nguyễn Thị Tần (quê ở Bắc Ninh) và nữ sĩ Hồ Xuân Hương nổi tiếng một thời. Tôi thấy ông Khoát chọn dựng thêm 2 bức tượng này thật có ý nghĩa, ảnh hưởng sâu sắc đến Nguyễn Du. Một người mẹ từ cái nôi của văn hóa quan họ đã sinh ra Nguyễn Du và một là người bạn thơ thân thiết của đại thi hào.

Ông Nguyễn Bá Khoát - chủ nhân vườn Kiều bên tượng Kim Trọng.

Ông Nguyễn Bá Khoát - chủ nhân vườn Kiều bên tượng Kim Trọng.

Tiếp đó, ông Khoát dẫn chúng tôi đi qua một cái cổng vòm uốn bằng cây phía trên treo 2 câu thơ: “Trong khi chắp cánh liền cành -  Mà lòng rẻ rúng đã dành một bên”. Đây là câu nàng Kiều phân trần với Kim Trọng khi lần đầu hai người hẹn hò tự tình mà chàng Kim “Xem trong âu yếm có chiều  lả lơi” thì Kiều từ chối và phân trần như thế. Điều khá đặc biệt là xung quanh khu vườn có bức tường xây cao 2m, dài khoảng 100m đắp nổi  20 bức phù điêu khá sinh động và hấp dẫn. Ông Khoát bảo: Truyện Kiều dài 3.254 câu với 20 chương. Tôi “mạn phép” rút lại 20 câu lục bát, mỗi câu lấy ở 1 chương. Ví dụ chương 1 tôi chọn 2 câu: “Rút trâm sẵn dắt mái đầu - Vạch ra cây vịn bốn câu ba vần” hay chương 2 là 2 câu: “Chênh chao bóng nguyệt xế mành - Tựa ngồi bên triện một mình thiu thiu”. Nghe ra, tôi nhận thấy những câu ông chọn đều có động thái hợp với những nỗi niềm tâm trạng thân phận với bao chìm nổi, đầy vơi gắn với thân phận Thúy Kiều.

Không gian của vườn Kiều phân bố bài trí xếp đặt khá hợp lý. Trong vườn có hòn giả sơn đắp lớn như núi thật để có đường tình cho cái Kim thoa chỉ nam dẫn Kim Trọng tới vầng trăng hẹn và mái tóc thề Thúy Kiều. Có mặt hồ dưới chân núi để sen tàn dưới ấy thì cúc lại nở hoa lưng núi trên này. Có thấp thoáng giữa cây xanh một mái am nhỏ, nơi vãi Giác Duyên gửi Thúy Kiều ở lại với cửa Phật để Kim Trọng có chỗ tìm tới mà tái hồi. Bước theo các dấu chân nhân vật, người  vãn cảnh có cảm giác thấy khu vườn như rộng hơn diện tích thực của nó vì trong không gian giới hạn ấy chứa 15 năm lưu lạc của  nàng Kiều. Bước vào không gian, thời gian nghệ thuật của Truyện Kiều bắt đầu từ hòn non bộ Kim - Kiều gặp nhau: “Lần theo núi giả đi vòng - Cuối tường dưới cỏ nẻo không mới vào...”, du khách gặp trong vườn gần 80 câu Kiều được viết chữ lớn treo trên các thân cây. Tới cây liễu thì: “Lơ thơ tơ liễu buông mành - Con Oanh học nói trên cành mỉa mai”. Lần theo dây cát đằng, khách văn sẽ gặp cây tùng, trên cây tùng là câu “Trăm người nhờ bóng tùng quân - Tuyết sương che chở cho thân các đằng”. Đến cây lựu thì: “Nước vỏ lựu, máu màu gà - Mượn màu chiêu tập vẫn là còn nguyên”. Cứ như thế, thơ định danh cây - một lối định danh giàu tính nghệ thuật, giúp cây có một vẻ đẹp mới. Nơi bụi hoa mẫu đơn rực lửa, Nguyễn Du đề: “Dạy rằng cứ phép gia hình - Ba cây chụm nọn một cành mẫu đơn” thì màu đỏ như rừng rực hơn vì trong mẫu đơn hoa như có máu chịu nạn của mẫu đơn tiên...

Trong buổi đến thăm vườn Kiều, thật tình cờ chúng tôi gặp đoàn sinh viên ngữ văn - Khoa Xã hội và nhân văn Trường đại học Văn Hiến (TP.HCM) đã đến vườn Kiều tham gia buổi học ngoại khóa môn văn trung đại Việt Nam. Đoàn từ Sài Gòn xuống Biên Hòa khoảng 40km để giúp sinh viên thẩm thấu tác phẩm bất hủ của đại thi hào Nguyễn Du. Tại đây, đoàn sinh viên vào thắp hương trước bàn thờ Nguyễn Du và sau đó được chủ nhân dẫn đi thăm và thuyết minh về vườn Kiều. Đọc xong mỗi câu Kiều, ông Khoát không quên giảng dạy kỹ càng về các sự kiện liên quan, về một số điển cố, điển tích trong Truyện Kiều. Tại đây, sinh viên được dịp tiếp xúc đọc và sưu tầm một số tài liệu quý, các bài nghiên cứu của các nhà Kiều học gửi tặng ông Khoát. Kết thúc là phần kịch hóa dựng lại hoạt cảnh tác phẩm Truyện Kiều như đoạn: “Kiều hầu rượu vợ chồng Hoạn Thư” và cảnh “Kim Kiều đoàn viên”. Ở đây không còn là học môn văn nữa mà còn có cả sự hiểu biết thêm về sinh học, thực vật học và cao hơn là nhân học - học làm người.

Trước khi chia tay, tôi ngỏ ý muốn chụp chủ nhân vườn Kiều một tấm ảnh làm kỷ niệm. Ông Khoát chọn ngay cảnh đứng bên Kim Trọng đang rong ruổi bước  ngựa. Ông vẫn mặc bộ quần áo giản dị thường ngày xuất thân từ một lão nông đã thổi hồn mình tái hiện Truyện Kiều bằng một vườn Kiều sinh động với tất cả tình yêu và tâm huyết: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Và vườn Kiều cũng như tấm lòng của ông luôn rộng mở như 2 câu thơ chào khách: “Vườn Kiều đón khách du xuân - Đọc thơ ngắm cảnh thương thân nàng Kiều”.

Nguyễn Ngọc Phú

Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Về nơi có “địa chỉ xanh”

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com