Văn chương đối thoại với... tình

Bàn về văn chương nói chung và thơ ca nói riêng là chuyện cũ xưa như trái đất, đã có từ thời cổ đại. Nhà triết học Hy Lạp Aristote đã bàn khá kỹ trong Nghệ thuật thi ca.

Bàn về văn chương nói chung và thơ ca nói riêng là chuyện cũ xưa như trái đất, đã có từ thời cổ đại. Nhà triết học Hy Lạp Aristote đã bàn khá kỹ trong Nghệ thuật thi ca. Sau này, có hàng trăm, hàng ngàn người bàn thảo về tác phẩm này của ông và những vấn đề khác có liên quan đến thi ca, nhưng xem ra bàn theo kiểu Trần Nhuận Minh và Nguyễn Ðức Tùng trong Ðối thoại văn chương, chưa có nhiều và dường như theo quan sát của tôi, là duy nhất.

Văn chương đối thoại với... tình 1

Một không gian thơ xa ngái mà gần gũi

Sở dĩ nói là xa ngái vì hai người sống cách nhau nửa vòng trái đất, chẳng thể nào gặp nhau thường nhật: một người ở Việt Nam, một người ở Canada. Lại nữa, xa ngái vì hai người trò chuyện với nhau kéo dài tới 9 tháng.

Nhà thơ Trần Nhuận Minh là anh trai nhà thơ Trần Đăng Khoa. Ông sinh năm 1944 ở Điền Trì, Nam Sách, Hải Dương. Nhưng từ khi lớn lên, ông sống và làm việc ở Quảng Ninh. Ông đã nhận được 22 giải thưởng văn chương các loại, trong đó có Giải thưởng Nhà nước đợt III (2007).

Bác sĩ, nhà thơ Nguyễn Đức Tùng sinh ra và lớn lên ở Quảng Trị. Ông đã tốt nghiệp Đại học Mc Master, nội trú Đại học Toronto và UBC (University of British Columbia). Ông là bác sĩ làm việc trong ngành cấp cứu tại một bệnh viện ở Canada. Ngoài công việc chuyên môn về ngành y, Nguyễn Đức Tùng còn sáng tác, dịch thuật và viết phê bình văn học. Ông đã có nhiều tác phẩm về văn chương in ở trong và ngoài nước, đặc biệt là cuốn tiểu luận phê bình Thơ đến từ đâu đã được NXB Lao động in 2010 và cuốn Đối thoại văn chương viết chung với Trần Nhuận Minh do NXB Tri thức in 2012 đều phát hành tại Việt Nam.

Còn gần gũi, vì theo tôi, thơ ca, nhất là thơ phương Đông trong đó có thơ Việt từ cổ chí kim, dù diễn giải vòng vo hay rạch ròi luận lý, theo kiểu chẻ sợi tóc làm tư là điều húy kị nhất, mà chung qui lại cũng chỉ có một chữ “tình”. Dù là ai, làm nghề gì, nếu không có cái “tình” thực thụ đến với nhau thì khó có thể lĩnh hội thấu đáo được một câu, một bài thơ của người khác, chứ chưa nói đến một đời thơ hay một giai đoạn thi ca Việt.

Có lẽ đấy chính là cơ duyên cốt yếu để hai người bạn thơ Trần Nhuận Minh và Nguyễn Đức Tùng vừa cách xa nhau về tuổi đời, sinh quán, nơi làm việc, thậm chí là cả những trải nghiệm cá nhân, một chất liệu đầu vào tối quan trọng, tạo nên hồn cốt của tác phẩm thi ca, nhưng họ vẫn có thể “đối thoại” một cách vô tư, thẳng thắn và thú vị đến thế.

Hơn 800 trang sách, nhiều câu chuyện của 9 tháng ròng với 270 ngày, từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, từ thơ ca đến mỹ học, triết học; từ chuyện người thơ qua chuyện văn chương đến chuyện cuộc đời... được hiện lên khá rõ, kể cả những sự “ngớ ngẩn” đáng yêu, vốn thường thấy ở các người thơ nói riêng và văn chương nghệ thuật nói chung, hai ông cũng không hề giấu giếm. Mà đã nói đến văn chương thơ phú thì có biết bao nhiêu điều, nào là nguồn cơn, xuất xứ một bài thơ, nhận định, đánh giá tác phẩm, tác giả, phương pháp, trào lưu thơ Việt đương đại... cơ man là chuyện có thể nói cả đời chẳng hết.

Kể cũng lạ, ở vào thời buổi đa phần người ta bàn đến cơm áo, gạo tiền, thăng quan tiến chức, nhà to, xe sang... lại có hai người như thể ở “ngoài hành tinh”, chẳng hề víu bận gì đến chuyện của cuộc đời, mà lại quá bận đến chuyện thơ phú đến thế. Dường như với hai ông không có thơ là không thể sống được. Nhà thơ Trần Nhuận Minh từng thổ lộ: “Dù bận thế nào, thơ vẫn là cái thường trực, day dứt, trăn trở khôn nguôi, làm tôi ăn ngủ không yên”.

Văn chương đối thoại với... tình 2
 Hai nhà thơ Trần Nhuận Minh (phải) và Nguyễn Đức Tùng (trái)

Một đối thoại “mở”

Có lẽ nhà thơ Trần Nhuận Minh là một trong số ít người tự “phẫu thuật” quá trình sáng tác của mình theo cách chia làm hai giai đoạn từ 1960 - 1986 và từ 1986 đến nay. Ông cho rằng giai đoạn từ sau 1986 là “tôi viết về những cái mà mình cần phải có ở tác phẩm của mình”. Nói về việc phân chia quá trình sáng tác thành hai giai đoạn như nhà thơ Trần Nhuận Minh chia sẻ: “Và hình như trong thế hệ cầm bút với tôi, không có ai sự phân chia đó lại rõ ràng như tôi. Và thái độ cũng quyết liệt như tôi trong việc tự làm lại mình từ đầu”.  

Vì hai người trước khi bước vào cuộc đối thoại này đã cam kết với nhau đây là một cuộc trò chuyện thoải mái, thẳng thắn. Có lẽ vì thế mà nhà thơ Nguyễn Đức Tùng nhận xét về thơ Trần Nhuận Minh một cách khá chân thật và thẳng thắn: “Trong thơ Trần Nhuận Minh luôn có tình cảm nhân hậu. Tôi nghĩ là hiếm có vì giữa các nhà thơ thuộc thế hệ chống Mỹ ở miền Bắc ngày trước, tình cảm yêu nước, chủ nghĩa anh hùng, thậm chí tình cảm giai cấp là chủ đạo. Đọc Trần Nhuận Minh, thế hệ sau chắc chắn sẽ còn nhắc đến những dòng này: “Hai em trai chết trận/Chiến tranh ở hai đầu/Ảnh thờ mờ sương khói/Vẫn không nhìn mặt nhau”. Đó là những dòng anh viết về chiến tranh thời kỳ 1954 - 1975. Tôi tưởng rằng anh phải lạc quan hơn chứ? Nhà thơ Trần Nhuận Minh khẳng định: “Tôi không lạc quan cũng không bi quan. Tôi chỉ gọi đúng tên sự vật. Mà sự vật trong bản chất của nó không lạc quan cũng không bi quan, nó chỉ tồn tại...”.

Nói về thơ Trần Đăng Khoa, Trần Đức Tùng cho rằng anh đọc các tài liệu thấy những năm 1966 - 1968 ở miền Bắc có thể được gọi là những năm Trần Đăng Khoa. Vì có nhiều người cho rằng những năm ấy, thơ Trần Đăng Khoa có nhiều bài đặc sắc hơn so với bây giờ. Nhà thơ Trần Nhuận Minh đã có cách nhìn nhận, đánh giá riêng vừa có lý lại vừa có tình. Ông cho rằng: “Những năm ấy, thơ Khoa được dư luận quan tâm nhiều nhất”. Và ông kết luận: “Thực ra thì “nhiều bài thơ đặc sắc như anh (Nguyễn Đức Tùng- Đ.N.Y) nói của Khoa vẫn tiếp tục ra đời sau năm 10 tuổi”. Đây là cách trả lời vừa đủ khôn, cũng vừa đủ khéo với tư cách một nhà thơ gạo cội và với tư cách là anh trai của nhà thơ Trần Đăng Khoa, ngõ hầu tháo gỡ bao sự hồ nghi của dư luận về thơ của Khoa sau này.     

Bàn về xu hướng ngày càng nhiều người sử dụng các công nghệ và thiết bị kỹ thuật hiện đại như: máy tính, sách điện tử (ebook), mạng internet... nhưng để phân biệt sự khác nhau của chúng trong thưởng thức và sáng tạo nghệ thuật thì không phải ai cũng có thể biết. Nhà thơ Trần Nhuận Minh không hề giấu giếm sự sai lầm của mình 10 năm trước khi ông cho rằng gõ chữ trên máy tính là mất hết cảm xúc. Nhưng trong vòng 10 năm trở lại đây, ông hoàn toàn sáng tác và làm việc trên máy vi tính. Nguồn cảm hứng sáng tạo hoàn toàn được khơi thông, tuyệt nhiên không vướng bận gì, đến mức hiện nay ông không thể viết bằng bút được nữa. Còn đọc trên giấy, ông cảm thấy hứng thú trong việc thưởng thức cái hay, cái đẹp hơn so với đọc trên mạng internet. Khi ấy, tác phẩm như có nhiều tầng “sâu” hơn so với đọc trên máy tính.

Rõ ràng đây là một cuộc đối thoại “mở”, không những vừa dài, vừa rộng về không gian, thời gian, mà còn dài rộng cả về khía cạnh chủ đề, đề tài và nội dung bàn luận. Bất luận chuyện gì liên quan đến thơ và người thơ, nền thơ... hai ông đều có thể đem ra bàn thảo một cách khá thoải mái với nhiều thông tin, tư liệu bất ngờ, thú vị, nhiều nhận định, đánh giá về tác giả, tác phẩm, giai đoạn thơ ca khá mới mẻ. Chính nhà thơ Trần Nhuận Minh đã khẳng định là không hề có chuyện gì khó khăn, vướng mắc, kể cả những chuyện riêng tư trong cuốn sách cũng không hề bị “biên tập” lại.     

Đỗ Ngọc Yên

Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Văn chương đối thoại với... tình

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐỌC NHIỀU NHẤT