Từ kịch bản lên sàn diễn ở tuồng Quan khiêng võng: Hiện đại mà vẫn đậm đà truyền thống

Suckhoedoisong.vn - Một kịch bản viết về nhân vật lịch sử Lê Đại Cang qua những thăng trầm trong 3 triều vua Gia Long - Minh Mạng - Thiệu Trị trải suốt 39 năm làm quan trong nửa đầu thế kỷ XIX được diễn trên sân khấu dễ trở thành những hoạt cảnh minh họa cuộc đời của nhân vật.

Quả là một thách thức với đạo diễn NSND Lê Tiến Thọ và tập thể nhà hát. Với những sáng tạo của các nghệ sĩ, khán giả ngày đầu xuân được “sướng lỗ tai, đã con mắt” trước vở tuồng đầy tính hiện đại song vẫn đậm đà truyền thống này.

Một cảnh trong vở Quan khiêng võng  - Nhà hát Tuồng Đào Tấn  (Kịch bản: Văn Trọng Hùng Chuyển thể kb Tuồng: Đoàn Thanh Tâm Dàn dựng: Đạo diễn NSND Lê Tiến Thọ).

Một cảnh trong vở Quan khiêng võng  - Nhà hát Tuồng Đào Tấn  (Kịch bản: Văn Trọng Hùng Chuyển thể kb Tuồng: Đoàn Thanh Tâm Dàn dựng: Đạo diễn NSND Lê Tiến Thọ).

Tìm ra điểm nhấn như một lát cắt trong cuộc đời Lê Đại Cang khi từ  Tổng đốc An Hà xuống làm lính khiêng võng cần cả một chuỗi hành động để lý giải sự trớ trêu đến vô lý nhằm tìm đến tính thuyết phục của vở diễn thật không dễ. Vẫn biết cái nguyên nhân khiến Lê Đại Cang mất chức là do sự trả thù của Nguyễn Thiện - quan Đô thống triều Nguyễn - khi cháu ông ta bị Lê Đại Cang xử chém, em ông ta thì bị tống giam. Nhưng trình bày sự trả thù như thế nào với những nhân vật lên quan nếu không khéo sẽ dễ trở thành khái niệm, áp đặt trong sự phát triển của Hành động kịch. Đó là chưa kể kịch bản chạy suốt cả cuộc đời làm quan của nhân vật từ khi làm Tổng trấn Thăng Long, lấy Ngọc Phiên Quận chúa làm vợ, bị điều chuyển vào Hà An theo kiểu “sang ngang”, rồi xung đột với con nuôi, với người ông kính trọng là Tả quân Lê văn Duyệt, rồi bị cách làm quan khiêng võng, rồi lập công chống quân Xiêm La, rồi bị vu khống chịu án “trảm giam hậu” (bị giam đợi ngày chém đầu) để cuối cùng trở về quê hương Bình Định làm cư sĩ trong chùa với “tài sản” duy nhất là đòn khiêng võng để nhắn gửi cháu con về sự trung thành và nhẫn nhịn.

Tôn trọng kịch bản, đạo diễn đã tìm đến loại hình sân khấu tuồng với sự chuyển thể của Đoàn Thanh Tâm bằng hình thái kịch tablo mà mỗi cảnh kịch như một bức tranh bằng diễn xuất với những mảng miếng dàn dựng sinh động, công phu nhằm khắc phục những nhược điểm của kịch bản mà vẫn giữ được ý tưởng của tác giả.

Tất cả vở diễn như bài thơ bát cú với “Đề - Thực - Luận - Kết”!

“Đề” là nguyên nhân sinh oán giữa sự nghiêm minh của người thực thi pháp luật với sự bao che của kẻ quyền cao chức trọng hơn mình. Qua đó khẳng định nhân cách của người cầm cân nảy mực, bảo vệ công lý. NSND Lê Tiến Thọ đã chú tâm khai thác nỗi đau của dân qua tiếng khóc ai oán của Mai Thị và lớp đông quần chúng để lý giải cái quyết định dũng cảm, không sợ cường quyền là biết tỳ vào dân, không vô cảm trước nỗi đau của dân trong hành động bảo vệ công lý.

“Thực” là sự “thuyên chuyển công tác” xuống phía Nam với xung đột nhân vật trong chính Lê Đại Cang khi trước mắt là Lê Văn Khôi kẻ thù của đức Trung quân trong ông với tình yêu, lòng kính trọng cha nuôi của Khôi là Tả quân Lê Văn Duyệt. Nghệ thuật truyền thống của dân tộc được đạo diễn khai thác, phát huy đầy sáng tạo qua xử lý sân khấu qua các lớp diễn Quan Lê Đại Cang phải làm lính khiêng võng.Đây là lớp tuồng hay nhất khi phía trên sân khấu nhân vật chính diện và phản diện đấu lưng nhau, người ngay phải khiêng kẻ gian với hai tâm trạng và thái độ trái ngược dưới chiếc đòn khiêng treo phía trên gợi đến liên tưởng cán cân công lý.

Khác với sự hào hùng, bi thương  trong “Thực”, “Luận” trong vở diễn như một nốt trầm lý giải sự nhẫn nhịn của quan Tổng đốc Hà An xuống làm lính khiêng võng hay khi bị vu cáo, đứng trước cái chết mà thế lực thù địch gièm pha mượn tay triều đình gieo xuống. Những lớp kịch giữa Lê Đại Cang và phu nhân Ngọc Phiên quận chúa là những lớp kịch đầy xúc động đã lấy được những giọt nước mắt trào ra trên hàng ghế khán giả khi mâu thuẫn nội tâm nhân vật giữa lòng trung quân và nỗi oan nghiệt được đẩy đến cao trào. Đạo diễn và tập thể nghệ sĩ Nhà hát Tuồng Đào Tấn với diễn xuất tinh tế đã lý giải được hành động nhân vật và tâm lý rất phụ nữ của Ngọc Phiên cũng như tình yêu của Lê Đại Cang dành cho phu nhân gặp lòng trung quân trong ông đã tạo ra tính thuyết phục của vai diễn và vở diễn.

Kịch tính được đẩy lên cao trào với cái chết vô lý của nhân vật sẽ xảy ra nhưng cái kết của vở diễn lại có “Kết” như một thông điệp: Khi cái ác hoành hành với mưu mô bẩn thỉu, người có công bị hàm oan, chân lý bị chà đạp thì vị trí người đứng đầu cụ thể là triều đình quan trọng biết chừng nào! Không thể có một xã hội “sạch”, công bằng nếu triều đình chỉ là những hôn quân bạo chúa!

Một vở diễn về một nhân vật lịch sử  có thật trong nửa đầu thế kỷ XIX nhưng vẫn tươi rói giá trị, gần gũi với những bài học cho hôm nay về phẩm chất của lãnh đạo về lấy dân làm gốc, sự nêu gương, trung thành và nhẫn nhịn, sự sáng suốt minh bạch trước những mưu mô đê hèn bẩn thỉu dù núp trong bộ áo nào.

Lưu Thủy

Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐỌC NHIỀU NHẤT