Trị viêm xương tủy: kháng sinh nào tốt?

Suckhoedoisong.vn - Viêm xương tủy là một bệnh nhiễm khuẩn của xương cấp tính hoặc mạn tính, do nhiều loại vi sinh vật gây nên, thường gặp nhất là vi khuẩn.

Viêm xương tủy là một bệnh nhiễm khuẩn của xương cấp tính hoặc mạn tính, do nhiều loại vi sinh vật gây nên, thường gặp nhất là vi khuẩn.

Các loại vi khuẩn gây bệnh

Vi khuẩn gây viêm xương tủy hay gặp nhất là tụ cầu vàng; các vi khuẩn thường gặp khác gồm liên cầu tan huyết nhóm B, các chủng Pseudomonas, E.coli và các trực khuẩn đường ruột...

Những yếu tố nguy cơ là nhiễm khuẩn da kéo dài, bệnh đái tháo đường không được kiểm soát, máu lưu thông kém do xơ cứng động mạch, các yếu tố nguy cơ làm cho máu lưu thông kém là tăng huyết áp, hút thuốc lá, cholesterol máu cao và bệnh đái tháo đường, suy giảm miễn dịch, lạm dụng thuốc tiêm tĩnh mạch, ung thư...

Trị viêm xương tủy: kháng sinh nào tốt?

Phẫu thuật nạo xương chết trong viêm xương tủy.

Biểu hiện của viêm xương tủy nhiễm khuẩn

Thường gặp 2 thể bệnh: Viêm xương tủy cấp lan truyền từ đường máu và đường kế cận; viêm xương tủy mạn xảy ra sau viêm xương tủy cấp đường máu.

Viêm xương tủy đường máu: thường biểu hiện hội chứng viêm như sốt, rét run, mệt mỏi... Bệnh nhân thấy cảm giác đau không rõ ràng, thường chỉ thấy hơi sưng nề tại vùng xương viêm. Muộn hơn thấy có khối sưng, nóng, đỏ, đau rõ, giống như viêm cơ, vùng khớp lân cận sưng nề. Chọc dò có thể thấy mủ, nuôi cấy vi khuẩn thấy đa số là tụ cầu vàng.

Viêm xương tủy đường kế cận: hay gặp sau mổ, sau gãy xương hở... Người bệnh bị sốt cao, rét run, đau nhức tại ổ gãy hoặc tại vết thương, đau ngày càng tăng. Ngoài da căng nề, tấy đỏ lan tỏa tại vết thương hay vết mổ, chảy mủ thối qua vết thương, vết mổ.

Viêm xương tủy mạn: xảy ra sau viêm xương tủy cấp không được điều trị triệt để, bệnh tái phát từng đợt với đặc trưng là lỗ rò và xương bị hoại tử.

Xét nghiệm máu: Nếu viêm xương tủy cấp thấy có tăng bạch cầu còn viêm xương tủy mạn tính bạch cầu máu thường bình thường. Tốc độ máu lắng và protein C phản ứng (CRP) thường tăng cao. Chụp phim Xquang thấy hình ảnh phá hủy xương và phản ứng màng xương. Chụp cắt lớp vi tính và chụp cộng hưởng từ rất có giá trị trong chẩn đoán và đánh giá tổn thương viêm tủy xương. Sinh thiết mô xương viêm là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán viêm tủy xương và để làm kháng sinh đồ giúp lựa chọn một loại kháng sinh có hiệu lực điều trị.

Lựa chọn thuốc điều trị

Nguyên tắc điều trị là cần chẩn đoán bệnh sớm, dùng kháng sinh liều cao, đường tĩnh mạch, kết hợp nhiều loại kháng sinh, kéo dài ít nhất 6 tuần, cần cấy máu hoặc mô để xác định vi khuẩn gây bệnh trước khi dùng kháng sinh, dẫn lưu mủ và tổ chức hoại tử, loại bỏ các vật cấy ghép vào cơ thể.

Giai đoạn đầu: Lựa chọn kháng sinh dựa theo kinh nghiệm: nếu là tụ cầu vàng gây bệnh thường nhạy cảm với methicilin: nafcilin hoặc oxacilin tiêm tĩnh mạch mỗi 6 giờ 1 lần. Đối với chủng tụ cầu vàng kháng methicilin thì dùng vancomycin pha truyền tĩnh mạch. Hoặc dùng daptomycin 4-6mg/kg cân nặng đường tĩnh mạch 1 lần/ngày. Có thể dùng teicoplanin 6mg/kg 1 lần/ngày trong những ngày đầu, sau đó giảm còn 3mg/kg tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm bắp. Dùng linezolid 600mg mỗi 12 giờ tiêm tĩnh mạch, hoặc uống rifampicin 300mg uống 2 lần/ngày.

Nếu bệnh nhân dị ứng hoặc không đáp ứng các kháng sinh nói trên, có thể dùng: clindamycin 6mg/kg tiêm tĩnh mạch mỗi 8 giờ. Hoặc dùng levofloxacin 750mg uống mỗi 24 giờ kết hợp với rifampicin 300mg uống 2 lần/ngày. Hay có thể dùng acid fucidic 500mg tiêm tĩnh mạch mỗi 8 giờ kết hợp với rifampicin 300mg uống 2 lần/ngày.

Trường hợp do trực khuẩn mủ xanh gây bệnh: Cần phối hợp ceftazidim 2g/lần x 2-3 lần/ngày với mezlocilin 3g tĩnh mạch mỗi 4 giờ; hoặc phối hợp với kháng sinh nhóm aminoglycosid như gentamycin 5mg/kg/ngày; hay với amikacin 15mg/kg/ngày tiêm bắp hoặc pha truyền tĩnh mạch. Thời gian dùng trong khoảng 2 tuần, sau đó dùng kháng sinh nhóm fluoroquinolon như ciprofloxacin 500mg uống 2 lần/ngày đơn độc hay phối hợp với ceftazidim liều như trên.

Nếu nhiễm nhiều loại vi khuẩn, hay gặp trong viêm xương dài sau đóng đinh nội tủy thì dùng vancomycin 1g tiêm tĩnh mạch mỗi 12 giờ phối hợp ceftazidim 2g/lần x 2-3 lần/ngày. Hoặc thay thế bằng linezolid 600mg tiêm tĩnh mạch hay uống 2 lần/ngày phối hợp ceftazidim 2g/lần x 2-3 lần/ngày.

Giai đoạn sau: Tùy theo đáp ứng lâm sàng và kết quả kháng sinh đồ.

Trị viêm xương tủy: kháng sinh nào tốt?

Tổn thương viêm xương tủy trên phim Xquang.

Các biện pháp phối hợp

Bất động bằng bó bột được chỉ định rộng rãi cho mọi trường hợp viêm xương tủy cấp, nhằm phòng gãy xương bệnh lý và giúp cho quá trình chống đỡ của cơ thể tốt hơn. Bệnh nhân cần đảm bảo chế độ ăn uống đủ chất dinh dưỡng. Phẫu thuật: khi cần rạch rộng tháo mủ, loại bỏ hoại tử. Tiến hành đục xương đến tận xương lành. Tháo bỏ các vật cấy ghép hoặc thậm chí phải cắt bỏ chi để ngăn chặn nhiễm khuẩn lan rộng thêm.

Phòng bệnh

Bệnh viêm xương tủy nếu không điều trị kịp thời hoặc điều trị không đầy đủ sẽ tiến triển mạn tính rất khó điều trị. Vì vậy, việc phòng bệnh có ý nghĩa rất quan trọng. Cần kiểm soát tốt các vết thương và điều trị tích cực, triệt để các bệnh nhiễm khuẩn là biện pháp phòng bệnh hiệu quả nhất.

ThS. Nguyễn Xuân Lục

 

Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Trị viêm xương tủy: kháng sinh nào tốt?

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐỌC NHIỀU NHẤT