Tôi đã đội ơn Bác

Suckhoedoisong.vn - Nói sao, kể sao cho hết được công ơn trời biển của Bác, của Đảng mặc dù tôi mới được vinh dự tham gia cách mạng từ mùa Thu năm 1945.

Ở đây, tôi chỉ xin báo cáo lại một số điểm chính để qua đó thấy được phần nào thu hoạch của tôi qua sự dìu dắt giáo dục ân cần của Bác, của Đảng. Tôi rất ăn năn hối hận thấy rằng thu hoạch ấy đã bị hạn chế nhiều do sự tiếp thu chậm của tôi, do sự thiếu nhạy cảm của tôi.

Khi Cách mạng Tháng Tám thành công, tôi đang giữ chức Giám đốc Bệnh viện Mắt. Sau đó, tôi được Nha Y tế Bắc Bộ cử làm Giám đốc y tế miền Duyên hải kiêm Giám đốc Bệnh viện Hải Phòng. Tháng 5/1946, tôi được tin là tôi sắp được cử làm Chủ tịch Uỷ ban Hành chính Hải Phòng. Được tin này tôi rất lấy làm mừng nhưng đồng thời cũng rất là lo lắng. Lúc bấy giờ tôi nghĩ: mình là một người thầy thuốc, chưa từng hoạt động chính trị bao giờ, nếu được làm công tác chính quyền thì rất bỡ ngỡ và không có thì giờ tiếp tục làm chuyên môn về mắt - một nghề tôi rất thích thú, chi bằng cứ mạnh dạn đề nghị cấp trên miễn cho công tác mới này để có điều kiện tiếp tục làm công tác chuyên môn thì không những an nhàn mà còn đỡ trách nhiệm hơn nhiều. Nghĩ vậy, tôi bèn lên Hà Nội, trình bày suy nghĩ của tôi với BS. Vũ Đình Tụng - Giám đốc Nha Y tế Bắc bộ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Viện Mắt (nay là Bệnh viện Mắt Trung ương) tháng 8/1956. Ảnh: tư liệu BV Mắt TW

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Viện Mắt (nay là Bệnh viện Mắt Trung ương) tháng 8/1956. Ảnh: tư liệu BV Mắt TW

Nghe tôi nói, cụ Tụng gạt ngay đi và nói rằng: “Đây là một vinh dự lớn không những cho anh mà cho cả ngành y tế và cho giới trí thức đã được Hồ Chủ tịch và Chính phủ chiếu cố tới. Anh phải thay mặt cho anh em nhận lấy vinh dự lớn lao này và cố gắng công tác tốt”. Cụ Tụng đối với tôi là một người thầy, một người đàn anh, nghe cụ nói vậy tôi trở về an tâm hơn.

Rồi đến năm 1950, tôi được Bác cử làm Uỷ viên trong Uỷ ban Kháng chiến hành chính Liên khu III. Trong công tác mới này, tôi được sự giúp đỡ của các đồng chí Lê Thanh Nghị, Nguyễn Văn Trân, Đỗ Mười, Hoàng Văn Tiến, Nguyễn Văn Xước... Các đồng chí đã hết lòng giúp đỡ tôi, ân cần giáo dục tôi.

Quên sao được những hôm mưa phùn gió bấc mùa đông, buổi sớm quây quần với nhau trên mảnh chiếu, trong một căn nhà sàn tại một bản Mường, bên cạnh anh Nguyễn Văn Trân, anh Xước và cụ Bùi Kỷ (nay đã quá cố), nhấp chén trà hương vị đậm đà để mạn đàm về thời cục, về những chiến thắng oanh liệt của quân và dân ta, về những gương chiến đấu vô cùng anh dũng trong những căn cứ du kích ở Tả ngạn... Ôi, những hình ảnh ấm áp ấy không bao giờ phai mờ trong tâm trí tôi! Nó nói lên tình thương yêu chân thành của các đồng chí lãnh đạo đối với tôi, vì chính qua các cuộc mạn đàm nhẹ nhàng đó mà dần dần tôi hiểu rõ hơn đường lối cách mạng của Đảng, thấy rõ hơn sự tất thắng của cuộc trường kỳ kháng chiến của dân tộc ta, thấy rõ hơn tinh thần cách mạng triệt để của nhân dân ta, thấy rõ hơn trách nhiệm của tôi - một người công dân đối với Tổ quốc và cũng qua đó, tôi ngày càng gần Đảng hơn. Có những lúc tôi mắc những khuyết điểm sai lầm, các đồng chí không ngần ngại thẳng thắn phê bình tôi, điều đó làm tôi vô cùng cảm động trước thái độ rất chân thành đó.

Qua các buổi sinh hoạt trong Uỷ ban, tôi học tập được cách làm việc đúng đắn khoa học. Khi đưa ra một chủ trương công tác gì, phải xác định rõ mục đích, yêu cầu, đồng thời đề ra kế hoạch, biện pháp thực hiện, biện pháp tư tưởng, biện pháp tổ chức, rồi có biện pháp tiến hành từng bớc để rút kinh nghiệm, tổ chức thực hiện, chỉ đạo thực hiện, có biện pháp kiểm tra đôn đốc... Tất cả những cái đó trước kia tôi chưa từng biết đến. Nhờ đó, dần dần tôi khắc phục được bệnh đại khái chủ nghĩa, bệnh “chung chung”, bệnh quan liêu...

Lề lối làm việc được cải tiến đã giúp tôi rất nhiều trong các mặt công tác nghiên cứu khoa học, công tác giảng dạy và nhất là công tác quản lý lãnh đạo mà tôi được vinh dự tham gia.

Tôi chỉ tiếc rằng, trước kia tôi đã coi việc tham gia công tác trong Uỷ ban chỉ là một công tác “nghiệp dư” cho nên chưa toàn tâm toàn ý học tập. Tôi không ngờ rằng chính vì đã được tham gia công tác chính trị, chính vì đã biết vận dụng các kinh nghiệm và phương pháp làm việc trong thời gian kháng chiến chống Pháp mà mấy năm sau hoà bình, tôi làm được tương đối tốt chuyên môn cũng như công tác quản lý lãnh đạo. Ngay cả trong việc biên soạn một giáo trình, xây dựng một quy trình nghiên cứu khoa học, ta cũng vẫn cần phải vận dụng các phương pháp đó, đồng thời tôn trọng những nguyên lý, phương châm giáo dục và y tế xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, những bài học quý báu nhất để lại cho tôi những ấn tượng sâu xa là những bài học tôi thu hoạch được mỗi lần có vinh dự gặp Bác. Năm 1966, trong Hội nghị chính trị đặc biệt, tại Hội trường Ba Đình trong giờ giải lao, tôi và một số đồng chí khác được Bác cho gọi lên yết kiến. Thấy tôi, Bác liền hỏi: “Chú Nguyên, chú chữa mắt, chú cho Bác biết vì sao Bác đi về các làng xóm thấy các cháu còn toét mắt?”. Tôi còn đương trình bày lý do thì Bác nói ngay: “Các cô, các chú chưa chú ý tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh trong nhân dân. Phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền vệ sinh phòng các bệnh mắt sâu rộng hơn nữa”. Việc nhìn nhận vấn đề của Bác thật vô cùng sáng suốt, huấn thị của Bác thật vô cùng sâu sắc vì đây là cái khâu yếu nhất trong ngành mắt chúng tôi hiện nay. Anh chị em chúng tôi càng suy nghĩ, càng thấy thấm thía.

Trong thư Bác gửi cho các cán bộ ngành y tế tháng 2/1955, Bác huấn thị cho anh chị em 2 điểm: “Lương y phải như từ mẫu” và “Phải kết hợp Đông-Tây y”. Mỗi lần Bác nói chuyện với cán bộ y tế, Bác đều luôn luôn căn dặn 2 điểm trên. Đối với tôi, lúc thoạt mới nghe 2 câu trên, tôi nghĩ rằng ý nghĩa của 2 câu đó cũng đơn giản vì cha ông ta đã từng nói lương y như từ mẫu, cái khó là làm thế nào được đúng như vậy. Nhưng qua thực tiễn công tác và nhất là qua nhận thức về đường lối, phương châm công tác y tế ngày càng được thấm nhuần hơn, ngày nay tôi càng thấy, dù mỗi câu chỉ gồm có 5 chữ rất thông thường với các danh từ rất quen thuộc nhưng chứa đựng một nội dung rất mới, rất phong phú. Đây không phải chỉ là quan điểm mà nó còn là phương châm, phương pháp và nhất là còn thể hiện cả đường lối rất độc đáo của công tác y tế Việt Nam.

Bác đã dạy chúng tôi lương y phải như từ mẫu nhưng Bác còn nói: “Các cô, các chú phải đau cái đau đớn của người bệnh. Đối với người bệnh phải có một lòng thương yêu chân thành, vô bờ bến như đối với anh em ruột thịt của mình”. Đó là lập trường giai cấp, là quan điểm giai cấp, là thái độ phục vụ, là đạo đức cách mạng, là tinh thần trách nhiệm của người cán bộ y tế.

Kết hợp Đông Tây y có nghĩa là phải kết hợp vốn quý của y học cổ truyền với đỉnh cao nhất của khoa học hiện đại trên thế giới, cái kinh điển với cái hiện đại, cái dân tộc với cái quốc tế, cái thực tiễn Việt Nam với cái học được ở nước ngoài. Rõ ràng kết hợp Đông Tây y là nêu cao lòng tự hào dân tộc, lòng yêu nước đi đôi với nâng cao quan điểm giai cấp và lòng yêu chủ nghĩa xã hội, tinh thần quốc tế vô sản. Nói rộng ra, câu đó còn có nghĩa là nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, đồng thời coi trọng và sử dụng tốt sự viện trợ hào hiệp của các nước anh em và sự giúp đỡ vô tư của bè bạn khắp năm châu để xây dựng một nền y học Việt Nam mới. Đó là đường lối độc lập, tự chủ của Bác, của Đảng trong công tác khoa học kỹ thuật và trong sự nghiệp đào tạo bồi dưỡng cán bộ.

Thực hiện lời dạy của Bác, trong mười mấy năm nay tôi cùng với toàn thể anh chị em ngành mắt đã đạt được một số thành tích trong công tác phòng chống bệnh mắt hột và các bệnh mắt khác để phục vụ sản xuất, chiến đấu và đời sống. Tuy nhiên, công tác phòng bệnh, đào tạo cán bộ và nghiên cứu khoa học chưa đáp ứng được yêu cầu về chất lượng mà cách mạng đòi hỏi.

Các thành tích trên sở dĩ bị hạn chế vì chúng tôi chưa thấu triệt và chưa vận dụng được đầy đủ và sáng tạo 2 phương châm chỉ đạo trên.

Được ánh sáng trong lời di chúc của Bác soi rọi thêm, chúng tôi càng thấm nhuần sâu sắc hơn lời dạy của Bác. Chúng tôi cùng nhau hứa hẹn tăng cường đoàn kết nội bộ và tăng cường hợp tác xã hội chủ nghĩa, dưới lá cờ bách chiến bách thắng của Bác, của Đảng, quán triệt sâu sắc hơn nữa đường lối, phương châm của ngành mà Bác và Đảng đã vạch ra, tích cực học tập khoa học kỹ thuật, toàn tâm toàn ý thừa kế y học cổ truyền của dân tộc, quyết tâm góp phần xây dựng nền y học Việt Nam mới theo đường lối độc lập tự chủ, vươn lên hoàn thành các nhiệm vụ vinh quang mà Đảng và Nhà nước đã giao cho.

Anh chị em chúng tôi còn phải suy nghĩ nhiều, còn phải tiếp tục nghiên cứu kỹ hơn nữa các bức thư mà Bác đã gửi cho ngành y tế, ngành giáo dục, nghiên cứu kỹ từng câu, từng ý trong lời di chúc của Bác cũng như các văn kiện của Trung ương vì đó là những kho tàng vô tận về lý luận, về đường lối, đó là những văn kiện có giá trị lịch sử vô cùng to lớn.

Để đền đáp phần nào ơn sâu nghĩa nặng đối với Bác, đối với Đảng, tôi xin hứa tích cực tham gia vào phong trào “ba quyết tâm”, mong đóng góp một phần thiết thực, tuy là bé nhỏ, vào sự nghiệp cách mạng chung.

Trích từ sách: 100 năm Đại học Y Hà Nội - những kỷ niệm (2002)

TRẦN GIỮU (sưu tầm và giới thiệu)

GS. NGUYỄN XUÂN NGUYÊN (nguyên Giám đốc BV Mắt Trung ương)

Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Tôi đã đội ơn Bác

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐỌC NHIỀU NHẤT