Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh BS. Nguyễn Khắc Viện (5/2/1913 - 5/2/2013):

Tìm lẽ sống bên cửa tử

Không chỉ GS. Hồ Ðắc Di nghĩ rằng BS. Nguyễn Khắc Viện (BSNKV) khó thoát khỏi cửa tử, BS. Phạm Ngọc Thạch, khi gặp ông tại Paris năm 1962, biết ông sắp trở về nước, đã chân tình khuyên ông đừng về, vì với điều kiện kham khổ ở miền Bắc lúc đó, nhiều lắm ông chỉ sống được vài năm.

Không chỉ GS. Hồ Ðắc Di nghĩ rằng BS. Nguyễn Khắc Viện (BSNKV) khó thoát khỏi cửa tử, BS. Phạm Ngọc Thạch, khi gặp ông tại Paris năm 1962, biết ông sắp trở về nước, đã chân tình khuyên ông đừng về, vì với điều kiện kham khổ ở miền Bắc lúc đó, nhiều lắm ông chỉ sống được vài năm. Vậy nhưng ông đã sống thêm được 34 năm nữa.

Cuộc đời và sự nghiệp của BSNKV hẳn nhiều người đã biết, nhưng nhắc lại những giai đoạn ông “chiến đấu” với tử thần có lẽ là điều có ích mà cũng... vui.

Năm 1937, khi đang học Đại học Y Hà Nội, Nguyễn Khắc Viện sang Pháp học tiếp. Thời đó, Đại học Y Hà Nội như là một “phân khoa” Đại học Y Paris, nên việc chuyển trường cũng dễ dàng. Lúc còn ở Hà Nội, ông thuộc hạng thanh niên cao ráo, ham thích thể thao, nhiều lần tham gia hăng hái đội bóng do ông Tôn Thất Tùng làm đội trưởng. Sang Pháp, nghỉ hè, với chiếc xe đạp mua được nhờ tiết kiệm tiền đi tàu hạng ba xuống tàu hạng tư, ông đã đi gần như vòng quanh nước Pháp.

Vậy mà tháng 1/1942, khi vừa bảo vệ xong luận án tốt nghiệp, ông biết mình bị lao - một trong “tứ chứng nan y” thời đó. Căn bệnh quái ác đó hành hạ ông suốt hơn chục năm trời.

Tìm lẽ sống bên cửa tử 1
 Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện làm việc trên giường bệnh (ảnh chụp năm 1997).Ảnh: Trung Sơn

Đã có người kết luận rằng, BSNKV vượt qua cửa tử trong giai đoạn 1942 - 1952 không phải nhờ nền Tây y với dao kéo và thuốc kháng sinh mà chính nhờ kiên trì vận dụng thuật yoga thành phép “Dưỡng sinh Nguyễn Khắc Viện”. GS. Hồ Đắc Di, trong “Lời tựa” cuốn sách “Từ sinh lý đến dưỡng sinh” của BSNKV (NXB Đồng Nai, 1979), đã viết: “Tôi được biết anh Nguyễn Khắc Viện lúc anh bước vào học Trường Y khoa Hà Nội... Rồi được tin anh bị lao phổi nặng, phải nằm bệnh viện 10 năm, lên bàn mổ 6 lần... Tôi nghĩ rằng, có lẽ rồi không gặp lại anh Viện nữa... Đến ngày anh trở về nước... thấy anh vẫn công tác bình thường, đi lại nhiều trong nước cũng như ngoài nước, viết báo, viết sách... Xét bệnh tình, anh là một người rất yếu, nhưng lấy công tác mà xét, anh lại là một người có hiệu suất cao. Điều ấy chứng minh cụ thể nhất cho phương pháp tập luyện anh đã áp dụng...”.

Nhận định của GS. Hồ Đắc Di là điều không phải bàn cãi, nhưng mãi đến khoảng năm 1948 - 1950, BSNKV mới bắt đầu vận dụng phép “thở bụng” theo Yoga; vậy 6 - 7 năm trước đó, ông đã thoát khỏi cửa tử bằng cách nào? Nhất là trong điều kiện sống xa gia đình, không có một người thân săn sóc, lo cho bát canh nóng, bữa ăn hợp khẩu vị... Phép màu nào đã giúp ông có thể kiên trì suốt 1 năm tuyệt đối không nói lời nào, như là một người câm?

Lần theo “Biên niên” BSNKV và hồi ký của ông, chúng ta có thể thấy “phép màu” đã trợ sức cho ông trong cuộc chiến quyết liệt với tử thần chính là tinh thần, là chữ “Tâm” của một con người yêu nước nhiệt thành. Năm 1942, nếu không có Chiến tranh Thế giới lần thứ hai thì BSNKV đã về nước phục vụ. Bị “kẹt” lại ở nơi xa xứ, lại mắc chứng nan y, nhưng ông không thể là kẻ quỵt nợ. Ông quyết sống để trả nợ. Về “món nợ” này, ngày 26/11/1992, trong diễn từ đọc nhân dịp nhận Giải thưởng Lớn về Pháp ngữ của Viện Hàn lâm Pháp, BSNKV đã nói rõ: “Sinh ra trong một gia đình thấm nhuần đạo lý Nho giáo, tôi trưởng thành với ý nghĩ rằng, kẻ sĩ khi được hưởng đặc ân học hành là đã mắc một món nợ vô biên đối với dân tộc mình...”. Đó là chưa nói đến ý thức chính trị, khi BSNKV đã tự nguyện đứng vào hàng ngũ những chiến sĩ đấu tranh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Trong hồi ký của mình, nhắc đến giai đoạn này, BSNKV viết: “...Từ lúc chiến tranh nổ ra năm 1939 cho đến năm 1947, qua 8 năm học hỏi suy ngẫm, tìm tòi, tôi đã xác định dứt khoát được chỗ đứng trong cuộc sống, thái độ đối với đất nước, đối với thế giới, chấm dứt được một thời gian phân vân bế tắc khá dài...”. BSNKV viết như vậy, vì ông từng thú nhận mình là người giác ngộ muộn. Cũng trong hồi ký, ông đã viết: “...2/9/1939, chiến tranh bùng nổ, toàn bộ việc học của tôi bị đảo lộn hết... Tôi gần như hoang mang. Tình hình trong nước như thế nào, vị trí chỗ đứng của mình ở Việt Nam sẽ như thế nào. Từ trước đến lúc bấy giờ, tôi chưa bao giờ suy nghĩ gì đến vấn đề chính trị cả. Suốt từ nhỏ cho đến lúc học ở Pháp, tôi chỉ lấy hai việc làm vui là học tập và thể dục thể thao...”.

Chúng ta thường nghe nói đến “tâm bệnh” - điều đó rất đúng đối với trường hợp BSNKV. Có thể nói, ông đã bị “lao tâm” trước khi bị vi trùng lao xâm nhập. BSNKV đã viết trong hồi ký: “...Sau này nhớ lại, tôi mới thấy rõ ràng, năm 1942 sở dĩ tôi bị bệnh lao, ngoài khó khăn vật chất (ăn uống thiếu thốn, làm việc nhiều) thì nguyên nhân rất quan trọng là sự bế tắc, khủng hoảng trong cuộc sống cá nhân về mặt vị trí, chỗ đứng sự nghiệp của mình”.

Thật may mắn là khi ông vừa nhiễm bệnh, tại Viện điều dưỡng Sana Saint Hilaire du Touvet cách Paris hơn 600km, BSNKV đã có điều kiện đọc nhiều báo chí và sách kinh điển Đông - Tây, lại được tiếp xúc với nhiều trí thức tiến bộ Pháp, với những Việt kiều yêu nước - trong đó có lớp “lính thợ” Việt Nam bị Pháp bắt sang phục vụ Chiến tranh Thế giới thứ hai. Có thể nói, cuộc sống ấy như là mảnh đất màu mỡ, còn những thông tin thời sự quốc tế và tình hình cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Việt Nam cùng những kiến thức về triết học, tôn giáo là ánh sáng mặt trời giúp cho hạt mầm yêu nước trong con người BSNKV mau trưởng thành, cứng cáp. BSNKV đã kể lại trong hồi ký:“...Đến năm 1949, tôi được kết nạp vào chi bộ Đảng tại bệnh viện.

Cũng năm ấy xảy ra một vụ tôi còn nhớ đến bây giờ. Có vị nghị sĩ Chủ tịch Ủy ban về Đông Dương của Quốc hội Pháp đến nói chuyện tại bệnh viện. Vị này là người của Đảng thuộc phe chủ trương chiến tranh kiên trì nhất chống cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Đây là một chính khách cáo già, ăn nói hùng hồn, lưu loát, tuyên truyền cho luận điệu Bảo Đại là đại diện cho dân tộc Việt Nam, còn Hồ Chí Minh là một nhóm phiến loạn.

Thuyết trình xong, vị ấy hỏi ai có ý kiến. Tôi lên nói rõ ràng trong hơn 15 phút, dựa vào những thực tế đã nắm được qua nhiều nguồn thông tin, trong đó có cả báo cáo mật của tướng Revers (là tướng chỉ huy quân sự ở Đông Dương) bị tiết lộ mà anh em Việt kiều đã thu thập được, chứng minh rằng 90% nhân dân Việt Nam đều đứng sau Chính phủ Hồ Chí Minh, có cả tôi và đa số Việt kiều ở Pháp. Chưa bao giờ có một vị thuyết khách nào đến bệnh viện này lại rơi vào một thế bí như vậy...”.

Với tinh thần ấy, chúng ta có thể hình dung, ngay cả trong khi phải làm người câm suốt năm để tự cứu mình, BSNKV hẳn đã hàng trăm lần tự nhủ: “Nhất định ta phải sống! Lớp học của anh em “lính thợ” đang chờ ta. Ta phải sống để góp sức vào cuộc kháng chiến ở quê nhà!...”.  

Phải có một tinh thần như thế, thần chết mới không thể quật ngã được cái mầm sống thoi thóp trong con người BSNKV. Tuy vậy, cuộc chiến trường kỳ 10 năm 1942 - 1952 của BSNKV với thần chết vẫn chưa kết thúc, dù sau đó ông đã rời bệnh viện, ra nhận trách nhiệm phụ trách Hội Liên hiệp Việt kiều tại Pháp. Trong 2 năm 1957 - 1958, ông lại lên bàn mổ 2 lần để bịt cái “hang” sau lưng và cứu lá phổi bị tổn thương nặng. Tưởng chết, Hội Việt kiều chuẩn bị tiễn đưa, nhưng sau 2 tháng, ông trở lại làm việc. Một lần nữa, BSNKV lại vượt qua cửa tử, nhờ phép “thở bụng” và cũng  nhờ tiếng gọi của Tổ quốc luôn thôi thúc trong lòng. Có thể nói như thế mà không sợ mang tiếng “đại ngôn”. Ngay từ năm 1948 - 1949, khi chưa thoát được bệnh nan y, ông đã bắt đầu nghiên cứu tâm lý trẻ em và giáo dục, viết 2 tập “Lòng con trẻ”“Giáo dục hoạt động” gửi về chiến khu Nam Bộ cho GS. Hoàng Xuân Nhị - người bạn đồng hương và cũng từng đi du học Pháp - lúc đó phụ trách tờ “Le Voix du Maquis” và là Giám đốc Nha Giáo dục Nam Bộ. Từ năm 1952 - 1954, mặc dù cái “hang” sau lưng vẫn chảy mủ, BSNKV đã đi lại giữa nhiều thành phố nước Pháp, xây dựng tổ chức Việt kiều, tập hợp tin tức nước Pháp gửi về trong nước, ra đều đặn tờ “Quyết thắng” cung cấp thông tin cho bà con Việt kiều. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ 7/4/1954, bí mật vượt biên giới Pháp - Thụy Sĩ để gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Đoàn Chính phủ Việt Nam tại Hội nghị Genève báo cáo nội tình nước Pháp. Qua lời kể của BS. Trần Hữu Nghiệp, chúng ta còn được biết, khoảng năm 1956 - 1957 - lúc đó, BSNKV vừa được cử làm Tổng Thư ký Hội Liên hiệp Việt kiều tại Pháp, ông đã giúp ngành y tế Nam Bộ khắc phục được một khó khăn không nhỏ. Thời kỳ đó, kẻ địch bắt được cán bộ, chiến sĩ cách mạng, thường dùng súng lục cực nhỏ bắn vào bụng, hoặc dùng dùi nhỏ đâm thủng ruột, rồi thả cho về - như vậy sẽ không có bằng chứng để tố cáo với Ủy ban Quốc tế giám sát Hiệp định Genève; nhưng với thủ đoạn dã man này, nhiều anh chị em bị viêm phúc mạc cho đến chết. Muốn cứu chữa, phải đại phẫu thuật, mổ khâu lại chỗ ruột thủng, nhưng bác sĩ, máy móc thiếu thốn. Thế là, một lớp đào tạo y tá phẫu thuật cho các tỉnh Nam Bộ cấp tốc được mở với tài liệu học tập là các bản vẽ Quene sắp lớp (Planches Quene) do BSNKV gửi từ Paris về bằng máy bay qua đường Phnom-pênh...

*

*   *

Năm 1997, khi biết giới hạn cuối cùng cuộc đời mình sắp đến, BSNKV như không bận tâm đến cuộc chiến đấu chống lại thần chết nữa. Ngược lại, ông viết lá thư gửi các bạn đồng nghiệp xin đừng dùng thuốc men gì nữa, để cho ông ra đi thanh thản. Cũng có thể nói ông là người thí nghiệm “quyền được chết” của người già yếu mà ở Việt Nam chưa có tiền lệ. Dù vậy, ông vẫn muốn mỗi phút sống của mình có ích cho cuộc đời, nên sau mỗi đêm thức dậy, tuy sức thở sắp cạn, ông vẫn đọc cho người thân chép lại giấc mơ vừa trải qua. Hẳn là với hơn 70 giấc mơ đó, ông muốn giúp những nhà nghiên cứu tâm lý “giải mã” một hiện tượng còn chứa nhiều bí ẩn của con người...

Chính là bên cửa tử, một lần nữa, BSNKV đã thể hiện lẽ sống cao đẹp của mình: Dù chỉ còn một phút sống, vẫn luôn nghĩ đến việc có ích cho đời...

Trung Sơn

Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Tìm lẽ sống bên cửa tử

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐẶT CÂU HỎI & NHẬN TƯ VẤN MIỄN PHÍ TỪ CHUYÊN GIA
ĐỌC NHIỀU NHẤT