Thuyên tắc phổi

Thuyên tắc phổi (pulmonary embolism) xuất hiện khi có một vật gây tắc nghẽn làm cản trở dòng máu chảy qua động mạch phổi.

Thuyên tắc phổi là gì?

Thuyên tắc phổi (pulmonary embolism) xuất hiện khi có một vật gây tắc nghẽn làm cản trở dòng máu chảy qua động mạch phổi. 90% trường hợp thuyên tắc phổi xuất phát từ cục máu đông hình thành ở chân hoặc tay (trong bệnh huyết khối tĩnh mạch sâu). Khoảng 80% các cục máu đông này sẽ tự tan biến mà không gây tắc mạch phổi, 20% còn lại có thể di chuyển đến tĩnh mạch chậu đùi và bị vỡ, cho phép một cục máu đông di chuyển lên tĩnh mạch chủ dưới và sau cùng lên phổi. Nhưng kích thước của nó quá lớn để có thể qua được những mạch máu nhỏ ở phổi nên sẽ gây ra sự tắc nghẽn tại đó.

Thuyên tắc phổi cũng có thể gây ra bởi những vật tắc nghẽn tạo thành từ giọt chất béo do tiêm thuốc dầu vào mạch, dịch màng ối do biến chứng thai nghén, khí khi đặt catheter tĩnh mạch trung tâm đi vào máu. Tuy nhiên, những trường hợp này hiếm gặp hơn.

Tại sao bệnh lại nguy hiểm?

Thuyên tắc phổi là một biến chứng nguy hiểm của thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch. Các nghiên cứu dịch tễ học ở Hoa Kỳ cho thấy thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch gây tử vong hàng năm nhiều hơn tử vong do bệnh AIDS, ung thư vú và tai nạn giao thông cộng lại.

Bệnh gặp khó khăn trong chẩn đoán do triệu chứng lâm sàng không điển hình, dễ nhầm lẫn với những nguyên nhân khác, các xét nghiệm sinh học không thể xác minh, cần phải nhờ đến chẩn đoán hình ảnh kỹ thuật cao mới xác định được.

Những ai có nguy cơ bị thuyên tắc phổi?

Nguy cơ phát triển thuyên tắc phổi tăng theo tuổi. Những người có nguy cơ cao là những người bị huyết khối tĩnh mạch sâu hoặc có tiền sử thuyên tắc phổi.

Theo tam giác Virchow có 3 nhóm yếu tố làm tăng nguy cơ huyết khối tĩnh mạch sâu, do đó tăng nguy cơ thuyên tắc phổi gồm: tổn thương thành mạch, trạng thái tăng đông và ứ trệ tuần hoàn. Trong đó, những yếu tố nguy cơ hay gặp như bệnh nhân phải nằm bất động dài ngày hoặc ngồi máy bay, tàu xe trong thời gian dài, ít có khoảng rộng để cử động chân; ung thư, phẫu thuật, nong mạch vành, có thai, đái tháo đường, gia đình có tiền sử huyết khối và hút thuốc lá.

Triệu chứng của thuyên tắc phổi là gì?

80% các trường hợp không có triệu chứng, 20% còn lại có các triệu chứng không đặc trưng như: đau ngực; nhịp tim nhanh hoặc không ổn định; chóng mặt; khó thở hay nhịp thở nhanh; ho hoặc ho ra máu.

Đôi khi, có một số triệu chứng dễ thấy ở đầu chi - biểu hiện của huyết khối tĩnh mạch sâu - như: sưng; đau hoặc tăng cảm giác; đầu chi ấm hơn; da đỏ, xanh hoặc nhợt nhạt.

Một số trường hợp thuyên tắc phổi nặng có thể gây shock, bất tỉnh, ngừng tim hay tử vong.

Chẩn đoán thuyên tắc phổi như thế nào?

Bệnh được chẩn đoán căn cứ vào tiền sử bệnh nhân khám lâm sàng và những dấu hiệu nghi ngờ thuyên tắc phổi.

Những xét nghiệm thường dùng để chẩn đoán thuyên tắc phổi là: Xét nghiệm khí máu động mạch, điện tâm đồ, chụp Xquang ngực, chụp cắt lớp vi tính (CT), siêu âm mạch máu, chụp cộng hưởng từ (MRI), chụp động mạch phổi cản quang.

       Tại Hoa Kỳ, mỗi năm có 100.000 - 200.000 trường hợp tử vong do bệnh này và chỉ có 30% trường hợp được chẩn đoán trước khi chết, còn lại chỉ được phát hiện sau khi xét nghiệm tử thi. Trong một nghiên cứu tại Trung Quốc, có 33,6 - 43,6% trường hợp thuyên tắc phổi bị chẩn đoán nhầm sang các bệnh khác như bệnh mạch vành, suy tim, viêm phổi, bệnh màng phổi.

Điều trị thuyên tắc phổi

Phác đồ điều trị thuyên tắc phổi nhằm mục đích làm tan cục máu đông, ngăn cục máu đông phát triển to hơn và ngăn cục máu đông mới tạo thành. Bước đầu tiên trong điều trị thuyên tắc phổi là điều trị shock và cung cấp ôxy. Các thuốc chống đông máu như heparin, wafarin được sử dụng để ngăn sự tạo thành cục máu đông. Đặc biệt hiện nay hay sử dụng các heparin trọng lượng phân tử thấp như enoxaparin (lovenox của Sanofi Aventis) để thay thế cho heparin vì chúng có hiệu quả điều trị tương đương heparin, tiện dụng hơn và an toàn với bệnh nhân (ít nguy cơ giảm tiểu cầu).

Các thuốc tiêu sợi huyết (làm tan cục máu đông đã hình thành) cũng có thể được sử dụng, nhưng chúng gây ra nguy cơ chảy máu cao cho bệnh nhân nên thường chỉ được dùng trong những trường hợp nặng.

Ngoài ra, những bệnh nhân yếu và huyết áp tụt có thể dùng thêm thuốc như dopamin để tăng huyết áp.

Phòng bệnh có khó không?

Do không có hoặc các triệu chứng lâm sàng không đặc trưng, các xét nghiệm cũng gặp phải những khó khăn trong chẩn đoán thuyên tắc phổi nên việc đánh giá mức độ nguy cơ bệnh nhân đang có, từ đó biết được xác suất mắc bệnh để có biện pháp dự phòng là cách tiếp cận tốt nhất.

Bệnh nhân có nguy cơ cao có nhiều cách để phòng bệnh như dùng các thuốc chống đông máu (heparin, enoxaparin, wafarin), sử dụng tất băng nịt tránh tạo thành cục máu đông bằng cách đẩy dòng máu tới những tĩnh mạch sâu và giảm lượng máu ứ đọng.

Ngoài ra có những cách để giảm nguy cơ thuyên tắc huyết khối như: rèn luyện, luyện tập thể dục thường xuyên; không nên nằm lâu ngày sau khi phẫu thuật bụng, khớp, sau tai biến mạch máu não; sản phụ cần đi lại, nằm đúng tư thế để tránh cho thai không gây chèn ép tĩnh mạch chậu.

90% thuyên tắc phổi bắt nguồn từ huyết khối tĩnh mạch sâu, do vậy nên đến bác sĩ chuyên khoa khám nếu thấy dấu hiệu sưng to bất thường một chân, nặng chân, đau chân, cũng có thể đến bệnh viện lớn để làm siêu âm doppler nếu có điều kiện.

BS. Ngô Thị Thu Trang

Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Thuyên tắc phổi

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐẶT CÂU HỎI & NHẬN TƯ VẤN MIỄN PHÍ TỪ CHUYÊN GIA
ĐỌC NHIỀU NHẤT