DÒNG SỰ KIỆN

Đường dây nóng:

1900 90 95 duongdaynongyte@gmail.com
0901727659 bandientuskds@gmail.com
Thục địa - vị thuốc bổ thận âm
BS.CKII. HUỲNH TẤN VŨ - 06:19 28/08/2019 GMT+7
Suckhoedoisong.vn - Thục Địa là loại dược liệu có tên gọi khác là sao tùng thục địa, địa hoàng thán (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Tên khoa học: Rehmania glutinosa Libosch. Họ Hoa Mõm Chó (Scrophulariaceae).

Mô tả cây thuốc: Thục địa là phần rễ của địa hoàng, là cây cỏ, cao 20 - 30cm, sống nhiều năm, thường lụi vào mùa khô. Rễ mập thành củ.Lá hình bầu dục, gốc thuôn, đầu tròn, mọc tập trung thành hình hoa thị, mép khía răng tròn không đều.Gân lá hình mạng lưới nổi rất rõ ở mặt dưới làm cho lá như bị rộp. Hoa hình ống, màu tím đỏ, mọc thành chùm trên một cuống chung dài. Quả nang, nhiều hạt.Toàn cây có lông mềm.

Bộ phận dùng: Củ đã chế biến (radix rehmanniae). Loại chắc, màu đen huyền, mềm, không dính tay, thớ dai là tốt.

Bào chế:

Củ địa hoàng khi mua về được rửa sạch, phơi khô. Sau đó, cứ 10kg sinh địa cho thêm 1kg sa nhân, 2kg gừng khô bỏ vào nồi áp suất nấu với nhiệt độ từ 200 - 2200C. Nấu nồi áp suất giúp dược liệu giữ được tinh dầu, hương vị.Sau 12 tiếng, lấy dược liệu ra để nguội, phơi khoảng 2 - 3 ngày cho khô.Dịch còn lại trong nồi được cô bớt rồi thêm một chút rượu, rồi đưa đi ủ vào số thục địa, cho nguyên liệu khô hút dịch này. Sau đó lại đem số thục địa và nước dịch còn lại vào nồi áp suất… Quy trình nấu thuc địa như vậy lặp đi, lặp lại khoảng 4 - 5 lần là được.Lần cuối cùng dược liệu được phơi hoặc sấy khô.Chu trình nấu khoảng 15 ngày cho một mẻ dược liệu, thành phẩm là thục địa màu đen huyền, cứng và dẻo (khi gặp không khí), thơm.Thục địa qua chế biến như vậy mới trở nên bổ thận, không còn tính nê trệ của sinh địa nữa.

Thục địaCây Địa hoàng

Bảo quản:

Đựng trong thùng kín, tránh sâu bọ.Khi dùng thái lát mỏng hoặc nấu thành cao đặc hoặc đập cho bẹp, sấy khô với thuốc khác để làm thuốc hoàn, thuốc tán.

Mô tả dược liệu:

Vị thuốc thục địa là loại sinh địa đã chế biến thành, là phần rễ hình thoi hoặc dải dài 8 - 24cm, đường kính 2 - 9cm. Phiến dày hoặc khối không đều. Mặt ngoài bóng. Chất mềm, dai, khó bẻ gẫy. Mặt cắt ngang đen nhánh, mịn bóng.Không mùi, vị ngọt.

Tính vị: Vị ngọt, tính hơi ôn.

Quy kinh: Vào 3 kinh Tâm, Can, Thận.

Thành phần hóa học: B-sitosterol, mannitol, stigmasterol, campesterol, rehmannin, catalpol, arginine, glucose.

Những công dụng bổ thận

Theo GS.TS. Đỗ Tất Lợi, sinh địa và thục địa đều là thần dược (thuốc quý rất tốt) để chữa bệnh về huyết, nhưng sinh địa thì mát huyết, người nào huyết nhiệt nên dùng, thục địa ôn và bổ thận, người huyết suy nên dùng. Thục địa bổ tinh tủy, nuôi can thận, sáng tai mắt, đen râu tóc là thuốc tư dưỡng, cường tráng. Những người thần trí lo nghĩ hại huyết, túng dục hao tinh nên dùng thục địa.

Thục địa là vị thuốc chủ yếu để bổ thận, thuốc tốt nhất để dưỡng âm. Thục địa là thuốc vị “quân” trong nhiều cổ phương, như: Lục vị địa hoàng hoàng hoàn(thục địa, hoài sơn, sơn thù, đơn bì, trạch tả, bạch linh) hay bài Tứ vật (thục địa, bạch thược, đương quy, xuyên khung)...

Thục địa

Bài thuốc bổ thận dùng thục địa

Cụ thể bài thuốc bổ thận sinh tinh nam: Thục địa 100g, nhục thung dung 50g, huỳnh tinh 100g, kỷ tử 50g, sinh địa 50g, dâm dương hoắc 50g, hắc táo nhân 40g, quy đầu 50g, cam cúc hoa 30g, cốt toái bổ 40g, xuyên ngưu tất 40g, xuyên tục đoạn 40g, nhân sâm 40g, bắc kỳ 50g, phòng đảng sâm 50g, đỗ trọng 500g, đảng sâm 40g, trần bì 20g, đại táo 30 quả, lộc giác giao 40g.

Thận âm không đủ, nóng trong xương cốt, mồ hôi trộm, di tinh, lưng đau, gối mỏi.

Hoàn tả quy: thục địa 20g, sơn thù 12g, câu kỷ tử 12g, thỏ ty tử 12g, cao ban long 12g, sơn dược 16g, ngưu tất 12g. Nghiền thành bột mịn, luyện với mật làm hoàn.Ngày 2 lần, mỗi lần 12g.

Hoàn đại bổ âm: thục địa 20g, quy bản 20g, hoàng bá 12g, tri mẫu 12g. Nghiền thành bột, trộn với tủy xương sống lợn, luyện với mật làm hoàn.Ngày 2 lần, mỗi lần 12g.Uống lúc đói, chiêu với nước gừng hoặc nước muối nhạt.

BS.CKII. HUỲNH TẤN VŨ

Tin liên quan
Thục địa - vị thuốc bổ thận, dưỡng huyết, ích tinh
SKĐS - Thục địa có công dụng tư âm, dưỡng huyết, bổ Can, ích Thận, ích tinh, bổ tủy, tuấn bổ chân âm, kèm bổ huyết. Do vậy, thục địa là vị thuốc chủ lực của nhiều bài thuốc bổ thận cho những trường hợp vô sinh, cả nam lẫn nữ, tăng cường sức khỏe nói chung, sức khỏe tình dục nói riêng.
Món ăn thuốc từ thục địa hoàng trị suy nhược
SKĐS - Thục địa dùng cho các trường hợp âm hư huyết hư với các chứng trạng đau lưng mỏi gối, suy nhược cơ thể, ù tai điếc tai, đau đầu hoa mắt chóng mặt, thị lực giảm.
Thục địa trị suy nhược, di tinh, di niệu
SKĐS - Thục địa là sinh địa đem chưng và phơi nhiều lần cho đến khi thuốc có thể chất dẻo quánh, có màu đen từ trong ra ngoài.
Thục địa bổ huyết
Thục địa (tên khoa học là Radix Rehmanniae gluticosae praeparata), là một vị thuốc được chế từ sinh địa khô. Sinh địa đem chưng và phơi nhiều lần (5 - 7 lần) cho đến khi thuốc có dạng dẻo quánh, có màu đen từ trong ra ngoài.
Tin chân bài
CHUYÊN ĐỀ
Bình luận
TIN CÙNG CHUYÊN MỤC
Xem thêm