DÒNG SỰ KIỆN

Đường dây nóng:

1900 90 95 duongdaynongyte@gmail.com
0901727659 bandientuskds@gmail.com
Thân phận của “cái” gọi là hàn lâm
07:00 24/06/2015 GMT+7
Suckhoedoisong.vn - Tôi tìm đến ông trong một sáng mưa giông giữa mùa hè bỏng rát của Hà Nội cữ tháng 6. Người ta bảo với tôi rằng, NSƯT Lê Văn Hà (Văn Hà) là “của độc” của ngành opera Việt Nam (VN)

Tôi tìm đến ông trong một sáng mưa giông giữa mùa hè bỏng rát của Hà Nội cữ tháng 6. Người ta bảo với tôi rằng, NSƯT Lê Văn Hà (Văn Hà) là “của độc” của ngành opera Việt Nam (VN) bởi ông là đạo diễn opera duy nhất được đào tạo bài bản và bảo vệ luận án tại Viện nghệ thuật Sân khấu quốc gia Matxcơva. Hơn hai chục năm nay, ông sống cô đơn ở căn hộ chung cư còn đầy ắp kỷ niệm một thời trong con ngõ nhỏ phố Núi Trúc.

Đạo diễn Văn Hà. Ảnh: Tố Lan

Gặp NSƯT Văn Hà, không ai đoán ông đã bước sang tuổi bát thập, vẫn nhanh nhẹn, nồng nhiệt khi nói về nghề, nhưng đôi khi lại rủ rỉ và cuốn hút với những kỷ niệm xa mờ. “Người này” sống khép kín, ít giao du bạn bè, rượu thì chả uống. Dường như với ông, những lận đận trong cuộc đời và sự nghiệp khiến ông trở nên trầm lặng, chỉ khi gặp được “đối tác” ông mới mở lòng và trò chuyện thân tình.

- Đã 55 năm rồi, kể từ ngày ông bắt đầu bước chân vào thánh đường nghệ thuật, lại được chọn đi đào tạo ở một ngành nghệ thuật dường như còn xa lạ với người VN ngày ấy - bộ môn opera (nhạc kịch), ông còn nhớ cảm xúc của mình khi đó không?

- Cũng vừa vui vừa lo vì bản thân cũng chưa hình dung hết thế nào là opera dù rằng thời điểm đó một đạo diễn Liên Xô đã sang VN giảng dạy và dàn dựng vở opera Epghênhi Onhêghin. Khi này thì ở VN, một số nghệ sĩ đã được tuyển chọn để thành lập Nhà hát Giao hưởng - Hợp xướng - Nhạc vũ kịch VN. Tôi nghĩ, không phải chỉ nói câu cám ơn mà là phải nói câu biết ơn những người lãnh đạo ngành văn hóa thời đó đã nhìn xa trông rộng, thức thời để mang về cho đất nước VN, văn hóa VN một gương mặt, một tinh hoa văn hóa của nhân loại. Thời học ở Matxcơva - cái nôi của opera thế giới, tuổi trẻ nên đam mê nhiệt huyết lắm, tôi lao vào học một cách đầy thích thú. Thời gian đó, tôi đã dựng được những trích đoạn trong các vở: Ruồi trâu, Cacmen, Chiến tranh và hòa bình... Trên tấm áp phích kia bạn nhìn thấy không, các bạn Nga còn ghi lại dòng cảm xúc: Hãy cố giữ lấy thân mình trong cuộc chiến tranh đầy khổ đau của đất nước bạn, bởi nhân dân rất cần tài năng của bạn.

Nói đến đây ông nghẹn lời, dường như nó đụng vào nỗi buồn sâu thẳm nào đó trong ông.

- Sau khi tốt nghiệp tại Viện nghệ thuật Sân khấu quốc gia Matxcơva (1966) với tấm bằng xuất sắc, về nước ông được cử là Tổng đạo diễn Nhà hát Giao hưởng - Hợp xướng - Nhạc vũ kịch VN, sau đó là Phó Giám đốc Nhà hát, ông đã cùng đồng nghiệp xây dựng bộ môn opera ở VN ra sao khi mà hầu như mọi thứ mới bắt đầu hình thành?

- Nói ra điều này có lẽ mọi người không thể tin được bởi nhớ lại những năm tháng đó - những năm tháng của cuộc chiến tranh gian khổ, của một đời sống còn nhiều khó khăn thiếu thốn. Vậy mà không chỉ riêng tôi mà là tất cả thế hệ thời đó đã lao vào sự sáng tạo một cách mê say. Có thể gọi đó là sự dấn thân, tận tụy hết lòng.

- Ông còn nhớ vở đầu tiên ông làm với tư cách đạo diễn không?

- Có chứ, vở Người tạc tượng của cố nhạc sĩ Đỗ Nhuận.

- Và sau đó là các vở…

- Tính ra cũng khoảng 40 tác phẩm bao gồm các vở opera, kịch hát (operettes), một số chương trình nghệ thuật mang quy mô quốc gia đã dàn dựng ở Trung ương và nhiều địa phương với những nghệ sĩ nổi tiếng một thời mà bây giờ nhắc đến tên ai cũng biết: Quí Dương, Ngọc Dậu, Trần Hiếu, Quang Hưng, Trung Kiên.

- Thời những năm 1960 - 1970, các đạo diễn sân khấu, điện ảnh VN phần lớn học ở Liên Xô, nhưng khi về VN với thực tế đời sống xã hội của đất nước, họ thường dàn dựng cho phù hợp với văn hóa VN. Là người duy nhất của VN được học nghề đạo diễn trên chính cái nôi của opera thế giới, ông đã vận dụng những khuôn vàng thước ngọc đó ở VN thế nào?

- Bạn đã chạm vào nỗi buồn nghề nghiệp của tôi đấy, đến bây giờ không phải ai cũng hiểu và chấp nhận điều tôi muốn làm. Được học nghề ở nơi nổi tiếng hàng đầu thế giới, tham khảo cả các trường phái opera của Ý, Pháp..., tôi không tán thành cái cách làm opera hàn lâm theo kiểu xa rời cuộc sống. Tôi đã tranh luận với những người làm nhạc kịch ở VN rằng, âm nhạc là một ngôn ngữ khái quát, tại sao chúng ta lại làm tả thực trên sân khấu. Tôi tiếp nhận sân khấu truyền thống và tạo dựng cùng ngôn ngữ âm nhạc bằng phong cách ước lệ. Hồi dựng Cô Sao, tôi cho một tấm thổ cẩm to vắt trên sân khấu mang dáng dấp của mái nhà sàn rất Tây Bắc. Ông Đỗ Nhuận xem rất thích, nhưng không phải ai cũng tiếp nhận như thế.

- Có phải từ suy nghĩ như thế mà ông bảo vệ quan điểm đến cùng và cũng gặp không ít phiền toái?

- Phải nói thế này, mình là người học kỹ, được chọn bảo vệ luận án ở nước ngoài nên cũng hiểu khá sâu về nghệ thuật opera. Có nên làm opera theo kiểu hàn lâm kinh điển không là điều tôi luôn trăn trở. Tôi muốn đưa những cái đương đại vào để cập nhật đời sống bởi opera có một điều khác sân khấu ca nhạc là có câu chuyện, nhưng không thể đưa toàn những aria, những lối hát recitatif (tất cả lời thoại viết thành ca từ) vào, người VN không tiếp nhận được như thế. Tôi muốn đưa những giai điệu như kiểu của Trần Tiến, Nguyễn Cường, Phú Quang, Phó Đức Phương, Quốc Trung vào. Quan điểm của tôi là vẫn tiếp thu tinh hoa nhân loại, nhưng cần phải VN hóa phù hợp với tâm sinh lý, với bản chất ngôn ngữ của cội nguồn VN. Chính con trai tôi từng học ngành piano và gần 10 năm học chỉ huy dàn nhạc giao hưởng tại Nhạc viện quốc gia Matxcơva cũng cảnh báo: Bố coi chừng, bố là con nhà nòi opera mà làm thế là phủ định tinh hoa của nhân loại.

- Ông có thấy tự hào khi mình là người duy nhất được chọn đi đào tạo nghề đạo diễn opera?

- Một ngành nghệ thuật mà chỉ có người đầu tiên, rồi hơn 5 thập kỷ sau vẫn không có người tiếp theo thì bạn bảo có vui được không? Có một thời, Nhà hát Giao hưởng - Hợp xướng - Nhạc vũ kịch VN hội tụ nhiều nghệ sĩ tài năng của đất nước, tạo nên một thời hoàng kim cùng với những vở opera, ba lê, những chương trình giao hưởng VN và quốc tế. Nhưng tới nay, dưới mái nhà xưa ấy cứ thưa vắng dần. Đại đa số những người ở thế hệ đi trước đã không còn, người nghỉ hưu, người phải dằn lòng niềm đam mê để đi tìm kế mưu sinh. Những thế hệ tiếp nối còn trụ lại với Nhà hát ngày hôm nay là rất đáng trân trọng bởi nghề này khắc nghiệt một cách khủng khiếp, nhưng đời sống nghệ thuật cũng như đời thường của những nghệ sĩ thuộc dòng hàn lâm bác học cổ điển này quá gian truân, lận đận. Có một câu nói vui nhưng nghe thật xót xa: Vào khu văn công Mai Dịch, gặp người nào mặt xanh nanh vàng đích thị là nghệ sĩ của Nhà hát Nhạc vũ kịch.

- Theo ông vì sao cả một thời gian dài như thế, opera VN cũng có những thành tựu mà sao lại không có thêm đạo diễn nào được đào tạo?

- Tính đến nay là đã hơn 50 năm, vậy mà đạo diễn opera được đào tạo chính qui mới có 1 - 2 người, nay đã về hưu, còn tiếp tục là ai thì chưa thấy. Tôi xin được hỏi lại bạn: Muốn phát triển một nền opera thì có cần đến đạo diễn không?

- Thế theo ông thì vì khó hay vì lý do gì?

- Đây là lời thành thực của một người suốt đời dành trọn cho sự nghiệp này: Xin được dành câu trả lời cho các nhà quản lý nghệ thuật.

- Đơn độc làm đạo diễn môn nghệ thuật bác học kén người xem, có những vui buồn cực khổ nào mà nhiều khi ông thấy ngã lòng không muốn tiếp tục làm nghề?

- Cho đến bây giờ, ở cuối con đường này, tôi cảm thấy xót xa cho thân phận mình. Thật bình tĩnh để nhìn nhận lại, quả thực thời đó có thể có người cho rằng tôi ngớ ngẩn. Tôi làm nghề rất đam mê, không tính toán. Tôi từng nói với mẹ của các con tôi rằng, trong đời anh có một thất bại lớn, đó là không thực tế. Cho đến lúc này, tôi chẳng có gì để lại cho các con, vẫn sống trong căn hộ khiêm tốn của khu tập thể nghệ sĩ.

- Nhưng ông trời đã cho ông một điều mà nhiều người không có, đó là sự thành đạt của những người con.

- Đó là điều an ủi lớn nhất của đời tôi.

- Thế còn hạnh phúc nào mà ông cảm thấy không gì thay đổi được những lựa chọn mà mình đã đi theo?

- Nó như một định mệnh, không thể khác được. Tôi say mê tạo ra phong cách gọi là ước lệ trong dàn dựng opera từ việc tiếp nhận sân khấu truyền thống. Đam mê đến cháy bỏng, thậm chí có người còn bảo tôi chỉ biết thắp hương thờ nghệ thuật. Nhưng thật trớ trêu, cho đến hôm nay, opera VN dần dần không có người làm, không có người diễn, không có người xem và dường như sự dấn thân của tôi cũng đang bị lãng quên.

Nói đến đây ông ngồi thừ ra, đôi mắt nhìn về xa xăm như kéo ông trở lại quãng đời mấy chục năm về trước. Tôi lờ mờ nhận ra sau cái thân hình mảnh dẻ và đôi mắt rất sáng kia rằng, thời trai trẻ ông cũng là một chàng nghệ sĩ đa tài cuốn hút lắm. Không chỉ dàn dựng opera mà ông còn là tác giả kịch bản của một số vở nhạc kịch và kịch hát. Ngoài ra ông còn dịch và đặt lời cho một số vở opera nước ngoài. Rồi ông còn là tác giả kịch bản của vở tuồng Tarax Bunba và vở cải lương Cô gái Phù tang được dàn dựng tại Nhà hát tuồng VN và Nhà hát Cải lương VN. Nhưng giờ đây, tất cả chỉ còn lại là dĩ vãng buồn.

Chia tay ông, ra khỏi con ngõ nhỏ là phố xá ồn ào, tấp nập. Nắng đã lên mà vẫn chưa xua tan màu u ám trên bầu trời. Trong tôi vẫn còn ám ảnh vị đắng của cuộc trò chuyện và văng vẳng đâu đây lời tự vấn của đạo diễn Văn Hà: Opera VN sẽ đi về đâu?

- Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này.

 Tố Lan (thực hiện)

 

 

Tin liên quan
Tin chân bài
Bình luận
TIN CÙNG CHUYÊN MỤC
Xem thêm