Hơn 20 năm thành tựu ghép tạng Việt Nam

Tầm đã xứng nhưng tâm chưa thỏa

Đi sau thế giới gần nửa thế kỷ và sau các nước trong khu vực khoảng 20 năm, nhưng đến nay trình độ ghép tạng của Việt Nam đã có nhiều tiến bộ vượt bậc.

Đi sau thế giới gần nửa thế kỷ và sau các nước trong khu vực khoảng 20 năm, nhưng đến nay trình độ ghép tạng của Việt Nam đã có nhiều tiến bộ vượt bậc. Thầy thuốc Việt Nam đã nắm được các kỹ thuật phức tạp trong ghép thận, gan và tim… Tại nhiều bệnh viện (BV), việc ghép tạng đã trở thành thường quy. Thành công đó đã khẳng định “tầm” của thầy thuốc Việt Nam với thế giới. Song những người thầy thuốc vẫn “canh cánh” một nỗi niềm bởi cái “tâm” chưa thỏa, đơn giản vì nhân lực có, kỹ thuật có, người bệnh cần mà lại không thể cứu hết vì thiếu nguồn tạng ghép.

Ghép tạng - Giấc mơ thành hiện thực!

Ghép tạng là một trong 10 thành tựu khoa học lớn nhất của thế kỷ XX và cũng là thành tựu lớn của y học thế giới. Ghép tạng cũng là niềm mơ ước từ bao lâu nay của ngành ngoại khoa Việt Nam. Từ đầu những năm 60 của thế kỷ XX, GS. Tôn Thất Tùng đã có những nghiên cứu ghép gan thực nghiệm tại BV Việt Đức, cho đến đầu thập kỷ 70, GS. Lê Thế Trung cũng đã thực hiện ghép thận thực nghiệm tại Học viện Quân y. Hai giáo sư đầu ngành đã thai nghén và mơ ước thực hiện kỹ thuật này nhưng do khi đó đất nước còn đang trong làn “mưa bom, lửa đạn” nên chưa thực hiện được. Đến tháng 4/1992, với sự quyết tâm của ngành y tế và những nỗ lực của các thầy thuốc Việt Nam, vào ngày 4/6/1992, BV 103 đã thực hiện thành công ca ghép tạng đầu tiên trong điều kiện trang bị kỹ thuật còn thiếu thốn, kinh phí eo hẹp... Thành công đó đã viết nên trang sử mới cho nền y học nước nhà đồng thời đánh dấu mốc son trên bản đồ ghép tạng. Tiếp nối thành tựu đó, lần lượt các BV trong cả nước đã tiến hành ghép thận và thành công, tháng 12/1992, BV Chợ Rẫy – TP. Hồ Chí Minh, BV Việt Đức (8/2000), BV Trung ương Huế (7/2001), BV Nhân dân Gia Định (1/2002), BV Nhi Trung ương (5/2004)... Tinh thần học hỏi và khát khao chinh phục đỉnh cao y học mới có lẽ vẫn luôn chảy trong tim người thầy thuốc Việt Nam, để rồi năm 2004, với sự giúp đỡ của giáo sư Nhật Bản, ca ghép gan đầu tiên cũng được thực hiện ở BV 103 cho bệnh nhân Nguyễn Thị Diệp, 10 tuổi. Ngày 21/5/2010, các bác sĩ BV Việt Đức đã thực hiện thành công ca ghép gan từ người chết não đầu tiên tại Việt Nam và cũng tại BV này đã thực hiện cùng một lúc 6 ca ghép tạng (2 ca ghép gan, 4 ca ghép thận) từ người chết não... Ngày 17/6/2010, BV 103 đã tiến hành thành công ca ghép tim đầu tiên trên người từ người cho chết não. Sự kiện này lại một lần nữa ghi tên Việt Nam vào bản đồ một số ít nước trên thế giới ghép tim trên người thành công. Sau đó, ngày 1 và 2/3/2011, các thầy thuốc BV Trung ương Huế đã thực hiện thành công ca ghép tim đầu tiên mang thương hiệu “Made in Vietnam”,  từ tháng 5/2010 đến nay, các ca phẫu thuật ghép gan, thận, tim từ người cho chết não được thực hiện tại BV Việt Đức đều do 100% bác sĩ Việt Nam thực hiện thành công. Những thành công này một lần nữa khẳng định, trong kỹ thuật ghép tạng, khó nhất là ghép gan, tiếp đến là ghép thận, ghép tim thì trình độ của bác sĩ Việt Nam không thua bất cứ một nước nào trên thế giới. Nếu như những năm 1990 trở về trước, ghép tạng vẫn là “giấc mơ xa vời” đối với ngành y tế Việt Nam thì đến nay, 12 BV trong cả nước trong đó có cả các BV tuyến tỉnh, BV ngành có đủ điều kiện để thực hiện ghép tạng. Một số BV việc ghép tạng đã trở thành thường quy trong đó phải kể đến những bước tiến vượt bậc của thầy thuốc Việt Nam trong việc rút ngắn thời gian tiến hành các ca ghép tạng. Đáng lưu ý, giá thành ghép tạng trong nước chỉ bằng 1/3 so với chi phí cho một ca ghép tạng trên thế giới. Mục đích của ghép tạng là để cứu sống người bệnh bị bệnh lý tạng giai đoạn cuối mà đã điều trị nhiều biện pháp không kết quả. Đối với những bệnh nhân này, ghép tạng là biện pháp duy nhất và cuối cùng để được tiếp tục sự sống. Vì vậy, thành công của ghép tạng đã mang lại nhiều lợi ích cho người bệnh, đặc biệt là chất lượng cuộc sống của họ.

Tầm đã xứng nhưng tâm chưa thỏa 1
 Ghép thận cho bệnh nhân Hứa Cẩm Tú tại Bệnh viện Trung ương Huế. Ảnh: BV

Tâm chưa thỏa

Theo PGS.TS. Hoàng Mạnh An, Giám đốc BV 103, trên thế giới mỗi năm có khoảng 50.000 trường hợp ghép tạng được tiến hành với tỷ lệ sống thêm sau ghép trên 1 năm và 5 năm từ 80 - 90%. Sau hơn hai thập kỷ, Việt Nam triển khai kỹ thuật này, cả nước mới chỉ có khoảng hơn 600 ca ghép tạng được thực hiện. Con số đó quá ít ỏi so với nhu cầu của người bệnh. Vấn đề khó khăn nhất vẫn là thiếu nguồn tạng ghép bởi quan niệm của người phương Đông về một “cái chết toàn thây”. Vì vậy, việc vận động thân nhân người chết não đồng ý hiến tạng là một việc làm vô cùng khó khăn, đôi khi còn có cả những sự hiểu lầm như bác sĩ không muốn cứu người bệnh. Đã có nhiều trường hợp, người nhà bệnh nhân đồng ý hiến tạng nhưng một trong số người nhà lại không đồng ý thì tạng đó cũng không thể ghép được. Có người khi còn sống, họ nhận thức về những ý nghĩa nhân văn của hiến tạng và tình nguyện hiến khi chết. Tuy nhiên, đến khi họ qua đời, vì nhiều lý do khác nhau gia đình lại không đồng ý cho hiến tạng... PGS.TS. Hoàng Mạnh An cũng khẳng định, khi đứng trước một trường hợp tai nạn rủi ro thì không người thầy thuốc nào lại không muốn cứu bệnh nhân của mình. Bởi vì làm nghề y là để cứu người, đó có thể coi là nguyên tắc, là đạo đức của nghề y. Đa số những người không may gặp tai nạn đều là người trẻ, nếu họ sống là lực lượng lao động lớn của xã hội. Chỉ có thầy thuốc mới biết trường hợp nào thì không thể cứu và  trường hợp nào có thể cứu sống được, khi đó người thầy thuốc sẽ nỗ lực đến cùng “còn nước còn tát”. Vì trước sinh mạng một con người, không thể nào cầu thả, nên phải cố hết sức hồi sức tối đa, nếu chỉ căn cứ vào một dấu hiệu, có thể dấu hiệu đó không chính xác thì vô tình đã phạm vào những điều y đức… Còn PGS.TS. Nguyễn Tiến Quyết, Giám đốc BV Việt Đức thì trăn trở, nhu cầu ghép tạng tại Việt Nam là rất lớn, nhất là ghép thận và gan. Mỗi năm nước ta có khoảng gần 1.000 trường hợp cần ghép gan, tim... Trong khi đó, chúng ta đã làm chủ được kỹ thuật ghép tạng, mô hình ghép tạng từ người cho chết não là một trong những giải pháp tăng số lượng ghép tạng để cứu sống bệnh nhân. Nhưng, chúng ta lại không đáp ứng được chủ yếu là vì thiếu nguồn tạng. Và khó khăn lớn nhất hiện nay vẫn là làm thế nào để có tạng để ghép. Tại BV Việt Đức, trung bình mỗi năm có khoảng gần 1.000 trường hợp TNGT bị chết và phải trả về. Trong số này, có gần 50% bệnh nhân bị chết não. Đây sẽ là nguồn tạng rất lớn có thể cứu sống hàng nghìn người mắc bệnh hiểm nghèo nếu thân nhân những người bệnh này tình nguyện hiến tạng cho y học. Nhưng trong vòng 4 năm, tại BV này cũng mới chỉ thực hiện được 12 trường hợp ghép tạng từ người chết não, con số đó quá ít so với số người cần được ghép và số bệnh nhân chết não. PGS. Quyết cho rằng, khi cái chết của người này lại là sự sống của người khác thì việc hiến tạng từ người chết não là việc làm hết sức nhân văn. Nhưng để ai cũng hiểu được vấn đề ấy lại không phải là điều dễ dàng. Đặt vấn đề xin một phần cơ thể người đã khuất (với người thân của họ) trong lúc “tang gia bối rối” là một việc làm dường như không tưởng. Nhiều gia đình thân nhân không hiểu sẽ cho rằng “thầy thuốc không chịu cứu người”. Nhưng việc khẳng định người nào đó chết não là một quy trình đòi hỏi rất nghiêm ngặt, phải có một Hội đồng khoa học được phép của Bộ Y tế thẩm tra, khẳng định chứ không phải một bác sĩ nào tùy tiện khẳng định được. Bên cạnh đó, để kết luận người chết não sẽ căn cứ vào 8 yếu tố lâm sàng và 3 yếu tố cận lâm sàng. Trên thế giới, để khẳng định người nào đó chết não họ dựa vào 8 yếu tố lâm sàng nhưng chỉ cần 1 yếu tố cận lâm sàng là đủ. Nhưng các thầy thuốc luôn cẩn trọng, làm bằng đạo đức y học và cái tâm của mình khi người nhà đã đồng ý hiến tạng, trước khi tiến hành ghép, họ vẫn phải làm 3 phép thử lâm sàng rồi mới đưa ra kết luận... Tuy vậy, nguồn tạng vẫn khan hiếm. Bởi lẽ để thay đổi quan niệm đã ăn sâu vào tiềm thức của người dân là một trở ngại vô cùng lớn trong quá trình vận động để có nguồn tạng ghép. Với người thầy thuốc chỉ mong muốn là làm sao cứu sống được nhiều người, vì vậy khi biết chắc người bệnh đó không thể được cứu sống, nhưng trên cái chết ấy sẽ hồi sinh những sự sống khác mà lại không thể được thì đó là một việc rất buồn và vô cùng tiếc nuối...

Tầm đã xứng nhưng tâm chưa thỏa 2
 Bệnh nhân tỉnh táo sau 2 ngày ghép thận tại BV Việt Đức.

Ðể đạt nguyện ước

Theo PGS.TS. Nguyễn Tiến Quyết, chúng ta đã có Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác, nhưng để luật đi vào cuộc sống và mọi người hiểu rõ về ý nghĩa của việc hiến ghép mô tạng thì cần phải truyền thông nhiều hơn đến với người dân để họ hiểu được việc hiến tạng là một việc làm mang ý nghĩa nhân văn, hiến tạng là để cứu người. Bên cạnh đó, cần có chính sách thỏa đáng để động viên những gia đình không may mất người thân đã hiến thân cho y học. Cùng đó là truyền thông để mọi người hiểu rằng đó là ý nghĩa nhân văn cần được trân trọng chứ không phải vấn đề vật chất. Bởi ông từng gặp trường hợp gia đình chết não đã đồng ý hiến tạng, nhưng rồi có người hàng xóm tác động về vấn đề vật chất nên đã thay đổi và từ chối hiến tạng. Còn người đứng đầu BV thực hiện ca ghép tạng đầu tiên ở nước ta thì cho rằng, để có tạng ghép cần sự vận động bền bỉ và có sự vào cuộc của cả xã hội. Kinh nghiệm ở các nước trên thế giới cho thấy, họ có cả một tổ y xã hội bao gồm nhiều thành phần, tổ chức xã hội, trong đó có các nhà truyền giáo, các linh mục... cùng đứng ra vận động. Người thầy thuốc cũng vận động nhưng chủ yếu là giải thích dựa trên những chứng cứ khoa học y học. Bên cạnh đó, các cơ quan thông tin cũng góp một phần không nhỏ trong quá trình đưa thông tin để nâng cao hiểu biết của người dân về việc làm ý nghĩa này. Có lẽ trong mỗi chúng ta ai cũng luôn luôn muốn sống trong một xã hội nhân văn, chúng ta không muốn chứng kiến ai đó rơi vào cảnh tai nạn chết não, nhất là những người trẻ tuổi khi tương lai còn đang mở rộng. Nhưng khi số phận của họ đã không thể thay đổi được, chúng ta lại nghĩ đến một điều khác, chúng ta mong muốn cái chết ấy sẽ thành bất tử, biến cái chết mang ý nghĩa nhân văn và để ngay sau cái chết ấy hồi sinh một sự sống. Vì vậy, xã hội cần có cái nhìn cởi mở, nhân văn và trân trọng đối với những  người hiến thân cho khoa học và thân nhân của họ. Xã hội cũng cần thay đổi nhận thức trong việc hiến tạng và hãy coi đó là một việc làm nhân văn, cao đẹp.

Nguyễn Hồng

Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Tầm đã xứng nhưng tâm chưa thỏa

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐẶT CÂU HỎI & NHẬN TƯ VẤN MIỄN PHÍ TỪ CHUYÊN GIA