Sách báo ngoại văn thời kháng chiến (I)

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, ở Hà Nội, tờ báo đối ngoại duy nhất là Le Peuple (Nhân dân) bằng tiếng Pháp. Báo này ngừng hoạt động khi Kháng chiến chống Pháp bắt đầu.
Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, ở Hà Nội, tờ báo đối ngoại duy nhất là Le Peuple (Nhân dân) bằng tiếng Pháp. Báo này ngừng hoạt động khi Kháng chiến chống Pháp bắt đầu. Trong thời gian chống Pháp, vùng tự do lẻ tẻ có một vài tờ báo địch vận tiếng Pháp: L’étincelle (Tia sáng) và Fraternité (Tình huynh đệ) ở khu III, tiếng Đức Waffenbrueder (Chiến hữu) ở khu Việt Bắc. Ở khu V cũng có báo tiếng Pháp. Tôi chỉ biết rõ hoạt động của tờ L’étincelle và tờ Waffenbrueder. Tờ L’étincelle là điển hình cho cái thuở ban đầu của Cách mạng, tổ chức chưa được chặt chẽ nhưng hoạt động đầy nhiệt tình với Tổ quốc và hào hứng cá nhân của tuổi trẻ. Kháng chiến chống Pháp bắt đầu ở Nam Định, ta vây quân Pháp trong thành phố. Cơ quan tuyên truyền của tỉnh chạy quanh các huyện, tùy tình hình chiến dịch để tránh càn quét. Tôi còn nhớ, một buổi tối, cơm nước xong ở nơi sơ tán ngoại thành, anh Nguyễn Phong - tỉnh ủy viên phụ trách tuyên truyền ngồi tán gẫu với anh em cán bộ, bỗng nảy ra ý kiến nên ra một tờ báo tiếng Pháp để vận động binh lính Pháp. Mọi người vừa xỉa răng vừa tán thành. Nhưng ai là người viết? Mọi người đều bảo: “Thôi, anh Hữu Ngọc biết tiếng Tây thì làm đi!”. Lúc đó, tôi đang dạy tiếng Anh, tiếng Pháp ở Trường trung học Nam Định, lại kiêm cả Chủ tịch Văn hóa kháng chiến tỉnh, tuổi độ 26-27, đã làm báo bao giờ đâu. Nhưng điếc không sợ súng, tôi cũng đứng ra nhận làm. Thế là tờ L’étincelle của Liên khu III ra đời. Tòa báo có nhà in riêng gồm một bác công nhân in, một chiếc máy in và giấy của một xưởng in tư nhân đi sơ tán bỏ lại trong thành phố. Tòa soạn có một mình tôi, mới đầu còn có một biên tập viên là ông Trần Lê Văn, được ít lâu, ông lại chuyển sang làm việc khác. Tôi vừa viết bài, đặt bài, vừa lên khuôn, sửa mo-rát, tự duyệt bài. Lâu lâu mới gặp Chủ nhiệm Phong vì anh sơ tán ở nơi khác. Cũng có họa sĩ Phạm Tăng cộng tác một thời gian. Tôi dạy học ở Yên Mô, vẫn nhớ kỳ ra báo, thường đạp xe đuổi theo “xưởng in” để kịp in ra nửa tháng/1kỳ 6 trang. Để tránh địch, giữ bí mật cho tờ báo, địa điểm in luôn di chuyển. Báo in xong, các đội tán phát bí mật đưa vào thành, đặt báo ở các nơi lính Tây hay đến. Ỳ ạch thế mà báo cũng tồn tại được 3 năm, đến khi địch chiếm Liên khu III mới thôi.

Một tờ báo địch vận khác là tờ Chiến hữu tiếng Đức (Waffenbrueder) và tiếng Pháp (Frères d’armes). Người phụ trách là ông E.Borcher có tên Việt là Chiến Sĩ, một trí thức Đức chống phát-xít trong đội quân Lê dương Pháp trôi dạt sang ta, được giác ngộ và được ông Trường Chinh kết nạp từ trước Cách mạng Tháng Tám. Những tờ báo này viết cho đối tượng binh lính nên nói chính trị nhẹ nhàng, có nhiều mục tươi vui để hấp dẫn họ đọc. Ông Chiến Sĩ được phong trung tá, về sau làm đại diện cho Thông tấn xã Đông Đức ở Hà Nội trước khi về Đức...      

Sau khi tiếp quản Hà Nội, ta mới có điều kiện in ấn sách báo đối ngoại.

Khoảng năm 1956, tạp chí tiếng Pháp Le VietNam démocratique (nước Việt Nam dân chủ) ra đời nhằm đối tượng độc giả Pháp: vận động dư luận Pháp ủng hộ tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam theo Hiệp định Giơnevơ. Tổng biên tập là Trần Đức Thảo. Ban thư ký tòa soạn có Lê Văn Chất, Phạm Thành Vinh và Hữu Ngọc. Tạp chí ra được 1 số thì... chết vì mỗi vị trong Ban biên tập đều là “sếp” của một cơ quan lớn, quá bận, không có thời gian họp...

Cuối những năm 50, NXB Ngoại văn, Báo Ảnh Việt Nam (ra nhiều thứ tiếng) và tạp chí Le VietNam en marche (Việt Nam tiến bước) ra đời. Không kể những ấn phẩm của Thông tấn xã Việt Nam, NXB Ngoại văn (Giám đốc Nguyễn Đức Quỳ - Thứ trưởng Bộ Văn hóa) là cơ quan đầu tiên chuyên xuất bản sách đối ngoại, chủ yếu dịch văn kiện và tác phẩm văn học.

Tờ Le VietNam en marche (VNEM) ra hàng tháng (1957-1963) in cả tiếng Pháp, tiếng Anh và Quốc tế ngữ. Đối tượng là độc giả bình thường nên hình thức nhẹ nhàng, đậm nét văn hóa, kể cả văn hóa truyền thống. 7 năm phát hành qua các sứ quán, tờ này đã có tiếng vang. Độc giả Đan Mạch W.Nielson cho VNEM là rất hấp dẫn, có “giá trị thông tin về một đất nước xa xôi”. Độc giả Tiệp Khắc Maderyc tìm thấy nhiều điều thú vị về dân tộc Việt Nam trong báo này. Độc giả Đức Jundel: “thường xuyên đọc VNEM, tạp chí đẹp và nội dung lý thú”. Độc giả Nigeria là Kobani đánh giá: “VNEM đã giới thiệu cho người dân mọi nơi cố gắng của nhân dân nước VNDCCH đã đạt được những thành tựu trong mọi lĩnh vực nhờ lao động hết mình!”.

Cuối năm 1963, tờ VNEM bị đình chỉ vì trong phong trào chống xét lại, VNEM bị coi là “xét lại”, bị ảnh hưởng phương Tây. Ban biên tập phải kiểm điểm tự phê và tổng biên tập Hữu Ngọc đi học Trường Nguyễn Ái Quốc 6 tháng  để nâng cao lập trường. Nghĩ lại thời ấy, tuyên truyền đối ngoại của ta ít kinh nghiệm, rất ấu trĩ. Một cán bộ tuyên huấn cao cấp đến giảng cho Ban biên tập chúng tôi: “Các anh không cần viết cái gì riêng cho độc giả nước ngoài. Cứ dịch báo Nhân dân và các bài nói của các vị lãnh đạo là đủ. Viết về nông thôn, cứ bám bí thư huyện là đủ!”. Một thí dụ khác: Khi phê phán VNEM xét lại, có bài viết về một người dạy hổ ở rạp xiếc thì bị phê: Viết như thế là ám chỉ “hổ giấy đế quốc” của Mao chủ tịch và cho là giai cấp tư sản (như hổ) cũng cải tạo được (!). Những chuyện ấy ngày nay nghĩ lại khó tưởng là chuyện thật!

                        (còn nữa)   

  Hữu Ngọc

Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Sách báo ngoại văn thời kháng chiến (I)

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐỌC NHIỀU NHẤT