Quê của người Hà Nội...

Suckhoedoisong.vn - Đã bao lâu rồi tôi không về quê? Lâu quá rồi, kể từ ngày về lấy chứng nhận lý lịch để kết nạp Đảng... cũng đã gần 10 năm.

Tôi sinh ra ở Hà Nội nhưng mảnh đất trung du phía Bắc ấy - nơi bố tôi sinh ra - chỗ chúng tôi vui chơi suốt cả tuổi thơ - miền yên nghỉ của biết bao nhiêu người thân bên nội: Hiệp Hòa - Bắc Giang có thể được gọi là quê tôi.

Lúc tôi bắt đầu lưu nhớ được ký ức, quê tôi chính là ở đó. Thuở còn ngồi trên chiếc khăn bông buộc vào chiếc xe đạp, tôi đã hay theo bố về quê. Chuyến về quê 60km trên chiếc xe đạp có biết bao nhiêu điều hay, điều lạ với một đứa trẻ học cấp I như tôi. Đi qua cầu phao hay cầu Long Biên, tôi khiếp sợ nhìn xuống dòng sông cuồn cuộn đỏ phù sa. Thỉnh thoảng lại gặp những mảnh ván cầu vỡ toác, dòng xe cộ ùn lại, tôi thầm thở phào là mình may mắn không rơi xuống đó.

Quê hương là nơi lưu giữ những ký ức đẹp của mỗi người.

Quê hương là nơi lưu giữ những ký ức đẹp của mỗi người.

Rời con đường nhựa, chiếc xe đạp của hai cha con tôi tiếp tục lăn bánh trên những con đường quê đầy sỏi và đất đỏ. Thứ âm thanh rào rào do sỏi nhỏ và đất đồi ấy cứ đi theo mãi những vòng xe. Tôi không biết bố tôi lấy đâu ra sức khỏe để đi ngần ấy chặng đường, trong ngần ấy năm. Ông mặc chiếc quần kaki được xắn lên gần gối. Bên phải được cặp lên để khỏi kẹt quần vào xích xe, chiếc mũ lá đội đầu, cổ quấn chiếc khăn mặt để rửa mặt dọc đường và lau mồ hôi nếu có.

Những ngày nắng hè, đi đường, hai cha con phải nghỉ liên tục. Quán nước ven đường chỉ có chiếc chõng tre, quạt tay, trà xanh. Hiếm lắm ông mới mua cho tôi miếng dứa gọt sẵn hay chiếc kẹo lạc. Khi lớn lên, tôi mới biết lý do là ông phải tiết kiệm tiền... để nuôi các con ăn học.

Đường quê đi mãi dần cũng thuộc những mốc chính. Rời những rặng tre hay bạch đàn là những cánh đồng lúa, khi thì xanh ngắt lúc lại chín vàng của vụ mùa, sen được trồng nhiều lắm dọc đường từ Từ Sơn về đến Đông Xuyên. Mùi lúa, mùi sen thoang thoảng đầy thi vị. Ông thỉnh thoảng lại thuyết minh cho tôi về những địa danh đi qua, giảng giải cho tôi tại sao cây xấu hổ lại biết xấu hổ, bắt cào cào châu chấu làm tôi cười khanh khách, không biết mệt là gì. Kiên nhẫn, túc tắc - đó là phương châm của ông lúc đi đường cũng như trong cuộc sống.

Trời sập tối, hai bố con mới gần về đích. Trăng ngày xưa sao sáng thế, ông cứ nói chuyện pha trò để tôi khỏi ngủ gật. Trẻ con vốn sợ bóng tối nhưng có ông mà tôi đỡ sợ hơn nhiều, ánh trăng, tiếng sáo diều kêu u u trên trời rồi cũng đưa hai bố con về tới đích. Chiếc chậu nhôm chứa đầy nước giếng mát tha hồ để rửa mặt, rửa tay. Điện không có nhưng chiếc đèn măng-xông đã được treo cao ở hiên. Cả nhà gồm hai ông bà và gần chục cô chú họ hàng hân hoan đón khách ở Hà Nội về. Miếng thịt gà, thịt vịt tuy ít ỏi nhưng sao mà ngon thế! Mọi người trò chuyện tới khuya, còn tôi vì là trẻ con nên đặt lưng là ngủ ngay.

Ông để tôi ở quê chơi suốt mùa hè mà chẳng giải thích vì sao. Tôi hóa thân thành nông dân đích thực. Những công việc chân tay, những kỹ năng lao động ông bà, cô chú dạy cho tôi bây giờ vẫn lưu trong tâm thức. Sáng sớm tôi dậy cùng các cô chú, ăn bát cơm trắng với muối vừng và bí luộc. Tôi theo họ đi gặt, ngồi xem họ đan dậm hay rổ rá, xay thóc, giã lúa. Bữa trưa chỉ là cá diếc kho tương mặn chát, rau muống luộc với mẻ làm canh sao mà ngon thế! Buổi chiều hè ở quê, tôi thoải mái bơi ao rồi lại bơi sông. Thỉnh thoảng tham gia tát mương, bắt cá, cưỡi trâu thật vui. Ông tôi làm nghề bốc thuốc, rất có uy tín trong vùng, rất nghiêm và hơi phong kiến. Tôi chẳng biết là sau này mình sẽ là bác sĩ nên không để ý đến công việc của ông. Một kệ sách đầy chữ nho, một buồng có ngăn tủ thơm phức những vị thuốc, chiếc dao cầu để ông cắt thuốc là hình ảnh về một thầy lang hồi đó. Thỉnh thoảng lắm ông mới sai tôi buộc thang thuốc bằng dây gai chữ thập lên những gói thuốc bọc giấy xi măng, nặn thuốc tễ bằng bột mì. Vui nhất là ông cho mấy quả táo tàu hay chi tiền cho bà đi chợ... có ăn ngon ngày hôm đó.

Lớn lên rồi đi học Đại học Y, tôi không về quê dịp hè nữa. Hai bố con đã có chiếc xe máy cub 50 về quê vào dịp Tết. Về đến đầu làng vẫn thấy bà lội ao ngang gối trong cái rét căm căm, nhổ rau cần nấu bánh đa cho hai cha con ăn. Mắt bà kém lắm nhưng vẫn không chịu đi mổ, chỉ khi nghe tôi chào bà mới nhận ra: “Cương đó hả”. Tội nghiệp! Ông cũng yếu lắm rồi, không bưng nồi cám lợn một mình như ngày xưa nữa. Chú tôi đang tranh thủ học nghề thuốc của ông. Mâm cỗ lạnh bưng từ bàn thờ xuống nhưng có chén rượu quê thật ấm, chuyện với người quê thật vui và đầm ấm.

Thời gian, tạo hóa mang đi ông bà tôi và những người già thân yêu của tôi nhanh quá! Trong vòng 10 năm, họ đã nằm dọc ngang trên cánh đồng xa xa kia. Theo vòng đời xoay vần, tôi cũng phải làm việc, lấy vợ, sinh con, chuyện về quê chỉ còn bố tôi và anh “taxi” là chăm chỉ nhất. Nhà ở quê giờ đã bê-tông hóa, đồi không cao, ao không rộng như ngày xưa nữa. Rất nhiều người cùng trang lứa đã bỏ quê đi làm ăn nơi xa. Có đám giỗ cũng chỉ ồn ào zô zô chốc lát, khách lại tất tả ra về, bọn choai choai chê nóng nên phi xe máy ào ào ra phố uống bia hơi và hát karaoke.

Tôi yêu quê và nợ quê một chữ Tình. Những khắc khoải, hoài niệm tốt đẹp lúc bừng lên lúc lắng xuống. Vì phải sống tiếp nên xin được thứ tha, quê hương nhé!

BS. Hoàng Cương

Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Quê của người Hà Nội...

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐỌC NHIỀU NHẤT