Phòng ngừa một số bệnh thường gặp ở người có H

Suckhoedoisong.vn - Lao, viêm phổi và một số nhiễm khuẩn khác là những nhiễm trùng cơ hội thường gặp ở người nhiễm HIV. Vậy điều trị dự phòng các bệnh này như thế nào?

Lao, viêm phổi và một số nhiễm khuẩn khác là những nhiễm trùng cơ hội thường gặp ở người nhiễm HIV. Vậy điều trị dự phòng các bệnh này như thế nào?

Điều trị dự phòng viêm phổi

Điều trị dự phòng bằng co-trimoxazole (CTX) có hiệu quả ngăn ngừa viêm phổi do Pneumocystis Carrini, bệnh do Toxoplasma và một số bệnh nhiễm khuẩn khác. Dự phòng CTX được khuyến cáo cho người lớn, phụ nữ mang thai và trẻ phơi nhiễm hoặc nhiễm HIV.

Phòng ngừa một số bệnh thường gặp ở người có H

Chăm sóc và điều trị cho bệnh nhân AIDS tại BV 09. Ảnh: TH

Theo Hướng dẫn quản lý, điều trị và chăm sóc HIV/AIDS mới nhất (2015) của Bộ Y tế, đối với trẻ phơi nhiễm với HIV: tiêu chuẩn bắt đầu điều trị dự phòng là tất cả các trẻ, bắt đầu từ 4-6 tuần sau sinh; Điều trị cho đến khi hết nguy cơ lây truyền HIV hoặc trẻ được khẳng định không bị nhiễm HIV. Đối với trẻ dưới hoặc bằng 5 tuổi nhiễm HIV: Điều trị dự phòng cho tất cả các trẻ, điều trị liên tục không ngừng cho đến khi trẻ 5 tuổi. Trẻ trên hoặc bằng 5 tuổi: Tiêu chuẩn điều trị khi CD4 dưới hoặc bằng 350 tế bào/mm3 hoặc có giai đoạn lâm sàng 3-4; Chỉ ngừng khi điều trị ARV được ít nhất 12 tháng và CD4>350 tế bào mm3 và ổn định về lâm sàng. Đối với người trưởng thành, kể cả phụ nữ mang thai nhiễm HIV: Bắt đầu điều trị khi có CD4 nhỏ hơn hoặc bằng 350 tế bào/mm3 hoặc có giai đoạn lâm sàng 3-4 hoặc không làm được xét nghiệm CD4 trước điều trị; Ngừng điều trị khi điều trị ARV ít nhất 12 tháng và CD4>350 tế bào/mm3 và ổn định về lâm sàng.

Trong quá trình điều trị dự phòng bằng co-trimoxazole nếu người bệnh có hội chứng Stevens-Johnson, dị ứng thuốc mức độ 3-4, bệnh gan nặng, thiếu máu nặng, giảm nặng các dòng tế bào máu cũng cần ngừng thuốc ngay.

Dự phòng lao

Lao là một nhiễm trùng cơ hội thường gặp nhất và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở người nhiễm HIV. Các cơ sở điều trị HIV cần triển khai 3 chiến lược: phát hiện tích cực bệnh lao, điều trị dự phòng lao bằng isoniazid và chống nhiễm khuẩn. Điều trị sớm ARV cho những người nhiễm HIV đủ tiêu chuẩn điều trị sẽ làm giảm tỷ lệ mắc lao cũng như tỷ lệ tử vong do lao.

Cần phát hiện tích cực bệnh lao:

Người lớn và vị thành niên nhiễm HIV cần được sàng lọc lao dựa trên triệu chứng lâm sàng trong tất cả các lần đến khám tại cơ sở y tế. Khi người nhiễm HIV có bất kỳ một trong các triệu chứng ho, sốt, sụt cân hoặc ra mồ hôi ban đêm, cần tiến hành chẩn đoán lao qua thăm khám lâm sàng, chẩn đoán phân biệt với các bệnh nhiễm trùng cơ hội khác, chụp Xquang phổi, xét nghiệm AFB đờm và các xét nghiệm cần thiết khác (genXpert, AFB hạch hoặc nuôi cấy vi khuẩn lao nếu có thể).

Trẻ nhiễm HIV có bất kỳ triệu chứng kém lên cân, sốt hoặc ho, hoặc có tiếp xúc với người bệnh lao sẽ có khả năng mắc lao và cần được đánh giá phát hiện bệnh lao và các bệnh khác. Kém lên cân được xác định khi: sụt cân do gia đình báo cáo; cân nặng thấp (thiếu cân so với độ tuổi); sụt cân (> 5%) kể từ lần khám trước theo hồ sơ hoặc đường cong tăng trưởng đi ngang.

Người nhiễm HIV mắc bệnh lao cần được đăng ký và điều trị lao sớm ngay sau khi có chẩn đoán lao.

Bệnh nhân lao nhiễm HIV cần được điều trị ARV càng sớm càng tốt, trong vòng 8 tuần đầu sau khi bắt đầu điều trị lao. Người nhiễm HIV mắc lao có tình trạng suy giảm miễn dịch nặng (số CD4 <50 tế bào/mm3) cần được điều trị ARV sớm ngay sau khi bắt đầu điều trị lao được 2 tuần và dung nạp thuốc lao.

Điều trị dự phòng lao bằng isoniazid (INH)

Điều trị dự phòng lao bằng isoniazid được chỉ định dùng cho:

Người lớn và trẻ vị thành niên nhiễm HIV đã được loại trừ mắc lao tiến triển; không phụ thuộc vào tình trạng miễn dịch kể cả phụ nữ mang thai, người bệnh đang điều trị ARV và người bệnh đã từng được điều trị lao trước đây.

Đối với trẻ em nhiễm HIV: Trẻ > 12 tháng tuổi, chỉ định isoniazid cho trẻ đã loại trừ mắc lao tiến triển dựa vào sàng lọc lâm sàng và không tiếp xúc với người mắc lao. Đối với trẻ có tiếp xúc với người mắc lao, chỉ định isoniazid khi đã khám và xét nghiệm loại trừ lao tiến triển. Trẻ ≤ 12 tháng tuổi, chỉ dùng isoniazid cho tất cả các trẻ có tiếp xúc với người bệnh mắc lao và đã được loại trừ mắc lao tiến triển. Tất cả các trẻ bị lao sau khi kết thúc thành công điều trị lao thì dùng isoniazid thêm 6 tháng

Tuyệt đối không dùng isoniazid cho người bệnh có tiền sử dị ứng với INH (người bệnh đã từng bị sốt, phát ban hoặc viêm gan do điều trị bằng INH trước đây). Trì hoãn điều trị dự phòng INH cho các trường hợp sau: viêm gan tiến triển, xơ gan, nghiện rượu nặng (người bệnh có các triệu chứng lâm sàng của viêm gan như mệt mỏi, biếng ăn, nước tiểu sẫm màu, đau bụng, nôn, buồn nôn, vàng da và/hoặc có tăng men gan ALT > 5 lần chỉ số bình thường). Việc trì hoãn này cho đến khi men gan trở về bình thường hoặc < 5 lần giới hạn bình thường; Rối loạn thần kinh ngoại biên (người bệnh có cảm giác kim châm, tê bì, yếu chi hoặc có cảm giác đau bỏng rát ở các chi. Trì hoãn điều trị dự phòng INH cho đến khi người bệnh được điều trị ổn định).

Về cách dùng thuốc: uống 1 lần/ngày vào thời gian nhất định trong ngày và xa bữa ăn, tốt nhất là uống lúc đói. Thời gian điều trị 9 tháng đối với người lớn và 6 tháng đối với trẻ em.

BS. Ngọc Bích

 

Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐỌC NHIỀU NHẤT