Phận ông chủ làm thuê

Thiếu vốn, thiếu kỹ thuật, nhiều chủ trang trại sau một số lần thất bại đã chuyển sang liên kết, làm thuê cho các doanh nghiệp nước ngoài. Sẵn có mặt bằng, nhân lực, các doanh nghiệp nước ngoài liền nắm lấy cơ hội rót vốn, con giống, kỹ thuật...

Thiếu vốn, thiếu kỹ thuật, nhiều chủ trang trại sau một số lần thất bại đã chuyển sang liên kết, làm thuê cho các doanh nghiệp nước ngoài. Sẵn có mặt bằng, nhân lực, các doanh nghiệp nước ngoài liền nắm lấy cơ hội rót vốn, con giống, kỹ thuật... và thu được lợi nhuận rất cao. Ðó là một thực tế xảy ra ở nhiều trang trại trên cả nước, trong đó các trang trại ở huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình là những điển hình.

Người dân bất lực

Huyện Tiền Hải hiện tại có đến gần 400 trang trại, trong đó nhiều trang trại từng có quy mô rất lớn. Thế nhưng, khoảng 5 năm gần đây, nhiều chủ trang trại liên doanh với công ty nước ngoài để có vốn và đầu ra. Chuyện “liên doanh” này chỉ nói cho oai chứ thực ra là các chủ trang trạng phải đi làm thuê, chăn nuôi gia công cho công ty nước ngoài. Hiện ở Tiền Hải chỉ có 4 trang trại chăn nuôi là tự chủ được hoàn toàn từ cơ sở đến con giống, thức ăn, tự tiêu thụ sản phẩm trên thị trường. Số còn lại đều làm thuê.

Phận ông chủ làm thuê 1
 Thiếu vốn, nhiều chủ trang trại chấp nhận làm thuê.

Trang trại của ông Đặng Thế Huyễn (xã Vũ Lăng) có trụ sở ở cánh đồng Rừng - một vùng đất trũng, xa dân, lập trang trại rộng hơn 5ha. Lợn nuôi trong chuồng cách ly với môi trường bên ngoài, hệ thống không khí được lọc trước khi đưa vào các chuồng nuôi; nước, thức ăn bảo đảm độ sạch thuần khiết; phân và nước thải được xử lý vào bể biogas để làm nhiên liệu. Với quy mô 250 lợn nái ngoại và 1.000 lợn thịt, mỗi năm, trang trại của ông Huyễn cung cấp hàng trăm tấn thịt lợn và hàng ngàn lợn giống. Thời hoàng kim đã xa, giờ bản thân ông cũng không thể chủ động được đồng vốn. Ông Huyễn lo lắng chia sẻ: “Trang trại của gia đình tôi là một trong những trang trại có quy mô lớn và hiện đại hóa đầu tiên ở đất Tiền Hải. Nhưng giờ cũng phải phụ thuộc vào Công ty cổ phần Chăn nuôi Việt Nam (100% vốn nước ngoài, công ty con của Tập đoàn Charoen Pokphand, Thái Lan). Các trang trại nhỏ thì chủ yếu đi làm thuê cho họ vì không còn vốn để đầu tư. Vốn ngân hàng thì không phải lúc nào cũng tiếp cận được...”.

Cũng ở xã Vũ Lăng, ông Trần Quang Thiêm - chủ một trang trại nuôi gà từng rất mạnh tay trong việc đầu tư cho chăn nuôi, giờ đây cũng phải phụ thuộc vào công ty nước ngoài. Trang trại của ông Thiêm có diện tích 3,2ha, có thể xây được 4 nhà nuôi gà. Do thiếu vốn nên mới chỉ xây dựng được 1 nhà nuôi, công suất 10.000 con/lứa. Ông Thiêm chấp nhận nuôi gia công cho JAPFA ComFeed Việt Nam theo phương thức xây dựng cơ sở, JAPFA ComFeed Việt Nam đầu tư giống, thức ăn, kỹ thuật và thu sản phẩm. Mỗi kg gà thành phẩm, cộng cả tiền thưởng, ông chỉ được 4.800 đồng. Trừ điện, nước, tiền thuê nhân công thì chẳng còn được bao nhiêu. Theo lời ông Thiêm, để đầu tư đầy đủ, ông phải cần ít nhất 14 tỷ đồng thì mới có khả năng chủ động trong chăn nuôi. Trong khi đó, dù đã rất cố gắng, ông mới chỉ lo được 5 tỷ “đổ” vào trang trại.

Tương tự, bà Phạm Thuấn Hoa có trang trại chăn nuôi lớn nhất huyện Tiền Hải với tổng diện tích hơn 7ha gồm 2 cơ sở. Thế nhưng trang trại này cũng chịu chung cái tiếng là chăn nuôi thuê. Dù đã đầu tư dồn gần chục tỷ đồng cho trang trại, nhưng để có điều kiện tốt hơn thì phải cần ngần đó nữa. Bà Hoa tâm sự: “Thực sự sức lực của chúng tôi đã kiệt rồi, đành chấp nhận làm thuê cho người ta. Chủ đầu tư giao con giống cho mình, mình nhận nuôi theo sự hướng dẫn của họ. Bệnh tật thì có thuốc thú y, thức ăn do họ cung cấp, người dân chỉ việc lấy công làm lãi. Đến thời gian hẹn, doanh nghiệp cử người đến lấy hàng. Tất cả đều được cân lên và tính phần trăm theo giá thị trường. Nếu chủ trang trại bỏ tiền túi ra nuôi, nếu có “thắng” hai lứa mà “thua” một lứa cũng xem như trắng tay. Nhiều hộ nuôi ngày càng có xu hướng chuyển hẳn sang hình thức nuôi gia công, vì hạn chế được rủi ro, dù số vốn xây dựng hệ thống chuồng trại không nhỏ”.

Khó tiếp cận vốn

Từ năm 2002, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 80 về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng (liên kết 4 nhà), nhưng trong lĩnh vực chăn nuôi gia súc gia cầm, liên kết này còn rất lỏng lẻo. Dịch bệnh từng bùng phát trên lợn (bệnh tai xanh), trên gia cầm (cúm gia cầm) những năm gần đây đã làm nông dân và các chủ trang trại thiệt hại nặng, hơn 5 triệu hộ đã treo chuồng, bỏ nghề. Trong các nguyên nhân, có nguyên nhân chủ quan là công tác phòng chống dịch bệnh của người dân và cơ quan chức năng còn nhiều thụ động, hiệu quả thấp xa so với yêu cầu. Ông Ngô Duy Thanh - chủ một trang trại ở xã Tây Tiến nhìn nhận: “Công tác phòng dịch tại địa phương của chúng ta vừa thụ động vừa kém hiệu quả, xảy ra dịch rồi mới đi chống, thậm chí xảy ra dịch rồi mới đi tìm phác đồ điều trị, tìm mua vaccin, không có vaccin, không trị được thì tiêu hủy lợn bệnh. Mà tiêu hủy lợn là giải pháp mà người nông dân rất sợ”.

Phận ông chủ làm thuê 2
 Ông Ngô Duy Thanh rất thấm thía về khó khăn của “đời chủ”.

Đây được xem là nguyên nhân chính khiến chủ trang trại, người nông dân ồ ạt nuôi gia công cho doanh nghiệp nước ngoài. Họ thua lỗ quá nhiều nhưng không có điều kiện để phục hồi. Nguyên liệu đầu vào (con giống, thức ăn, thuốc thú y...) chiếm tới 60 - 70% giá thành, trong khi có tới 70% nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi phải nhập khẩu. Thời gian qua, giá nguyên liệu trên thế giới không ngừng tăng khiến chi phí bị đội lên.

Qua tìm hiểu người dân, được biết, ngân hàng đồng ý cho người dân vay tiền và phải thế chấp bằng chính cơ sở mà họ đang có. Thế nhưng, việc làm này lại vấp vào một khó khăn khác là việc xác định giá trị tài sản thế chấp. Ngân hàng đòi người dân phải xác định giá trị tài sản bằng sự hiển thị của các hóa đơn giá trị gia tăng ở các khâu đầu tư. Trong khi đó, nhiều khâu như đóng gạch để xây dựng, dùng sức của anh em, họ hàng để san lấp, họ đâu có điều kiện để thuê công ty vào làm trang trại thì làm sao có hóa đơn giá trị gia tăng. Chủ trang trại Ngô Duy Thanh bức xúc: “Trường hợp của tôi, muốn “hợp lý hóa” toàn bộ bằng hóa đơn để ngân hàng cho vay khoảng trên 4 tỷ (70% giá trị tài sản thế chấp) thì phải chi phí mất khoảng 400 triệu đồng. Số tiền này chúng tôi lấy đâu ra?”. Đây là một “bức tường” cao nhất mà các chủ trang trại chăn nuôi không thể nào vượt qua được để có thể tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng.

Cần sự liên kết

Huyện Tiền Hải cũng tập trung khuyến khích nhân dân và các thành phần kinh tế đầu tư phát triển kinh tế trang trại với quy mô lớn; nhưng cũng chỉ là tăng cường khâu liên kết với các công ty tạo điều kiện thuận lợi cho chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Huyện đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tạo chuyển biến nhận thức cho cán bộ và các tầng lớp nhân dân tích cực chuyển từ chăn nuôi phân tán, tận dụng sang chăn nuôi tập trung theo hướng công nghiệp. Nhưng nguồn vốn cho người dân thì vẫn là một khoảng trống. Cũng phải khẳng định, hình thức “bỏ sức làm thuê” cho doanh nghiệp nước ngoài hiện phù hợp với người nông dân đang thiếu vốn và kỹ thuật. Qua quá trình “làm thuê” trên chính mảnh đất của mình, họ cũng học hỏi được nhiều kinh nghiệm. Nhưng chẳng lẽ, họ cứ mãi phải phụ thuộc vào các doanh nghiệp này và hưởng mức lợi nhuận không phù hợp với công sức mà họ đã bỏ ra?

Phải thừa nhận, việc liên kết 4 nhà của ta còn yếu kém trên các lĩnh vực: Con giống, thức ăn chăn nuôi, thú y, khoa học kỹ thuật, đầu ra sản phẩm. Trong khi đó, doanh nghiệp nước ngoài lại giải quyết tốt những mặt này. Đây chính là nguyên nhân khiến hàng loạt chủ trang trại từ bỏ chăn nuôi độc lập sang nuôi gia công, chấp nhận làm việc ổn định với mức thu nhập thấp. Biết điều đó, nhưng các chủ trang trại ở Tiền Hải và nhiều địa phương khác cũng “lực bất tòng tâm”. Họ mong Nhà nước có những chính sách giúp người dân phát triển chăn nuôi, đem lại bộ mặt mới cho nông thôn, để thoát khỏi kiếp làm thuê.     

Phóng sự của Nguyễn Văn Học

Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Phận ông chủ làm thuê

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐẶT CÂU HỎI & NHẬN TƯ VẤN MIỄN PHÍ TỪ CHUYÊN GIA
ĐỌC NHIỀU NHẤT