Ðọc thơ của một Thầy thuốc nhân dân

Tôi có hai tập thơ dày của bác sĩ Đỗ Anh Nhạ tặng, đẹp cả trình bày cho đến cả hồn thơ mà ông gửi gắm vào trong đó. Có lẽ không ai ngoài ông (tôi cho là may mắn) đã được làm chứng nhân lịch sử của một cuộc chiến tranh tàn khốc nhất, dai dẳng nhất mà dân tộc ta phải đương đầu, chịu đựng.

Tôi có hai tập thơ dày của bác sĩ Đỗ Anh Nhạ tặng, đẹp cả trình bày cho đến cả hồn thơ mà ông gửi gắm vào trong đó. Có lẽ không ai ngoài ông (tôi cho là may mắn) đã được làm chứng nhân lịch sử của một cuộc chiến tranh tàn khốc nhất, dai dẳng nhất mà dân tộc ta phải đương đầu, chịu đựng. Tất cả rồi cũng đến hồi kết thúc, nó trở thành dĩ vãng đớn đau, thành ký ức khó phai nhòa của triệu triệu người lính trong đó có ông. Thời hậu chiến lại mở ra trước mắt ông một trang đời khác nhưng oái oăm thay nó không giống những gì chúng ta hằng mơ ước, lý tưởng. Cả dân tộc lại phải trả giá cho những sai lầm về nhiều mặt đã dồn đẩy con người ta đến tận chân tường bế tắc, túng quẫn. Xã hội xuống cấp, lòng người cũng đổi thay, trắng đen còn khó phân biệt. Đất nước bị tổn thương từ nhiều nỗi, ông cũng đang gắng gỏi đi ra từ trong những tổn thương ấy mà đứng lên, để mà tồn tại. Thơ ông như dòng chảy của cuộc đời ông, lắm ghềnh nhiều thác, lắm khúc mắc mà cũng lắm truân chuyên và ối những oan khiên nhưng ông tránh được. Thời cuộc nhiễu nhương đã cho ông một cách nhìn cương trực, dứt khoát nhưng lại vô cùng đằm thắm, tinh tế ở trong từng trang viết. Ông có thói quen chép thơ vào một mảnh báo, vào một tờ lịch, hay một tờ giấy A4 trắng tinh nào đó rồi mới nắn nót ghi vào sổ tay thơ, đêm về sửa đi sửa lại mấy chục lần, từ đó ông lặng lẽ đem đến nhà xuất bản. Ông nặng gánh với đời hơn nặng gánh với thơ, nhưng thơ lại nói hộ lòng ông những uẩn khúc, tâm tư, những giãi bày cuộc thế vốn thường ngày ông không nói ra được. Tôi khâm phục ông ở chỗ, viết nhiều thể tài mà không trùng lặp, ông khiêm tốn coi mình  là người thơ không chuyên nhưng thế sự ở trong thơ ông, ngay chính các nhà thơ chuyên nghiệp chưa chắc đã biểu đạt nổi. Thơ khác văn xuôi lẫn báo chí cả một trời xúc cảm, ông lựa thơ mà tìm đến để tri ân cùng đồng đội: “Vết thương ứa máu hồng/ơi tình đồng đội đẹp sao”. Ông chân thành gửi gắm những lời yêu thương của mình đến với quê hương làng xóm, ông coi đó là bệ phóng cho ông phấn đấu trở thành người thầy thuốc nhân dân: “Cây đa phủ bóng ngàn xưa/mát vào trong dạ, gió đưa trăng về”. Hay: “Cành xoan trĩu trái chín vàng/một bầy cu ngói giăng hàng ăn xoan”. Dù đi hết mọi bờ trong bến đục, hình ảnh quê hương cứ mãi in đậm trong tâm trí ông, thấm bao mưa nắng, thấm nặng tình quê, mái tranh cũng thoảng mùi hương đồng, hương lúa, câu thơ cảm động đến độ làm cho ta cứ mãi day dứt, mãi thương khó về một vùng đất miền Trung nơi ông sinh ra, rồi lớn lên, rồi cầm súng ra đi, rồi lại trở về ngay chính nơi chôn nhau cắt rốn: “Lúa vàng đã chín thành cơm/mùi hương thoang thoảng rạ rơm khắp làng”. Hay: “Đồng quê bát ngát sông dài/núi cao xanh thẳm một vài cánh chim”. Có thương yêu lắm, có nặng nghĩa nặng tình lắm với quê hương, ông mới viết được dăm chục câu lục bát cảm động đến ứa nước mắt. Hình ảnh người cha, người mẹ, người vợ trong thơ bác sĩ Đỗ Anh Nhạ cũng ăm ắp tình thương yêu: “Cha đi cách biệt núi sông/mắt con ngấn nước lưng tròng lệ rơi/cha đi buồn trống cõi đời/mưa tuôn phủ trắng đất trời bão giông”. Và đây, khi ông viết về mẹ bằng nỗi ưu tư của một đứa con trai khi đang giữa chiến trường đạn bom khốc liệt: “Thương con tóc mẹ bạc thêm/nhớ con mẹ vẫn đêm đêm ngồi chờ/mong con từng phút từng giờ/đâm trầu cái cối bơ vơ tuổi già/trông con ra đứng gốc đa/nhìn về phương ấy xót xa mịt mùng”. Còn với vợ, thơ ông lại chuyển sang một cung bậc khác, đằm thắm nghĩa đời, một mực thủy chung, say đắm mà lại quá hụt hẫng khi thời gian sống bên nhau hết sức ngắn ngủi nhưng nồng đượm: “Em ơi chín cuộc vuông tròn/tình ta thắm đượm sắt son lời thề/vợ chồng nặng nghĩa phu thê/dù trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng”.

Ðọc thơ của một Thầy thuốc nhân dân 1

Quá khứ và thực tại đan xen ở hai tập thơ Ân tình đồng đội Mái tranh như một hiệu ứng kép - chiến tranh và hòa bình - cái được và cái còn - cái cao cả và sự đê tiện - cái trung thực và giả dối phát sinh từng giờ. Còn cái đi lên phía trước, cái ỳ ạch bảo thủ níu kéo chúng ta như một tảng băng chìm của châu lục - lạnh tanh và bất xê dịch. Mạch nghĩ thơ ông nó thế, ông kéo người đọc ra hai phía khác nhau thành hai thái cực nhưng đi đến thống nhất ở chỗ, thơ cũng có cái triết lý riêng của thơ, không đao to búa lớn, không hô hào sáo rỗng, nó ngấm dần vào thân thể chúng ta như mưa nắng ngấm vào đất đai, vào cỏ cây đồng nội như một thứ hương thơm thuần khiết và mãi mãi sinh tồn.

Tôi cho rằng ông đang sống bằng tư duy của người thơ thực thụ: đau đớn và vật vã, những giằng xé nội tâm giữa mọi biến thiên thời cuộc đã đi vào thơ ông như một khám phá khu biệt. Ông đến với thơ bằng lẽ tự nhiên của tâm thức, bản năng sống đầy khát vọng đã xui khiến ông trở về với bản năng thơ, nó nhẹ nhàng như sông chảy, như gió cuốn lá thu bay. Ông say thơ nhưng lại tỉnh ở từng con chữ, nó như hồn người mộng mị trước trang giấy trắng linh thiêng ấy. Khi đó ngòi bút thơ ông lại ngọ nguậy, chấm phá thành muôn nẻo đời thường có cả bất hạnh lẫn sướng vui, thành muôn gương mặt người không hề bị phá cách phá thể.

Nguyễn Hoài Nhơn

Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Ðọc thơ của một Thầy thuốc nhân dân

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐẶT CÂU HỎI & NHẬN TƯ VẤN MIỄN PHÍ TỪ CHUYÊN GIA
ĐỌC NHIỀU NHẤT