Những ông thần nông trên mặt đất

Suckhoedoisong.vn - Thưa ông Trần Đăng Khoa, hình như tôi có đọc ở đâu đó, thấy ông bàn về những người nông dân làm giàu rất ấn tượng.

- Thưa ông Trần Đăng Khoa, hình như tôi có đọc ở đâu đó, thấy ông bàn về những người nông dân làm giàu rất ấn tượng. Đặc biệt là những người nghèo, từ hai bàn tay trắng mà nên cơ nghiệp lớn, cả những người tàn tật “bay lên từ vực thẳm”. Trong buổi lễ tôn vinh 63 nông dân xuất sắc, có truyền hình trực tiếp, ông cũng phát biểu về nông dân rất sâu sắc. Có người bảo, chạm đến nông dân là ông “xuất thần”...

- Không phải đâu. Họ đùa đấy. Tôi chỉ là một thợ cày. Một lão thợ cày nhưng lại không có trâu. Nông dân mình xưa đơn giản lắm: “Lậy giời mưa xuống - Lấy nước tôi uống - Lấy ruộng tôi cày - Lấy bát cơm đầy - Một khúc cá kho”... Đấy mơ ước muôn đời của người nông dân chỉ có thế. Họ chỉ cần nước uống, ruộng cày, bát cơm và khúc cá. Vậy mà cái khao khát tối thiểu ấy, trước đây đâu cũng đã có được. Người nông dân làm ra hạt gạo mà quanh năm đói. Đói ngày giỗ cha, no ba hôm Tết. Chỉ ngày Tết mới có bát cơm trắng, còn thì quanh năm ăn độn. Một hạt cơm cõng đến mấy hạt ngô. Nhiều nhà còn lấy gốc rau muống già băm nhỏ, rồi phơi khô nấu trộn với cơm. Xới bát cơm cứ đen xì như bát... phân trâu. Với nông dân, cái đói vẫn là thường trực.

Những ông thần nông trên mặt đấtNhững nụ cười ngày mùa.

- Nhưng bây giờ, như ông nói, chúng ta đã xuất khẩu gạo đứng thứ nhất thế giới…

- Vâng! Xuất khẩu gạo đứng thứ nhất thế giới không có nghĩa là người nông dân chúng ta sẽ giàu nhất thế giới. Đấy là chúng ta xuất khẩu mồ hôi nước mắt đứng thứ nhất thế giới thôi. Mà mồ hôi nước mắt của nông dân thì lại rất rẻ mạt. Muốn giàu, phải trông vào các mặt hàng khác, đặc biệt là khoáng sản. Và khoáng sản có giá nhất là trí tuệ. Một sản phẩm công nghệ, ví như cái USB chưa đầy một lạng mà bằng cả tấn lúa gạo của nông dân. Chỉ chừng nào Việt Nam xuất khẩu được trí tuệ thì lúc ấy, Việt Nam mới thực sự cất cánh. Bây giờ người nông dân không phải chỉ lao động bằng cơ bắp, họ còn lao động bằng trí tuệ. Mà trí tuệ nông dân thì linh diệu lắm. Bí hiểm lắm. Bí hiểm bởi không thể lý giải được. Làm sao có thể hình dung một lão Hai Lúa với học vấn chỉ lớp 3, lớp 4 mà làm được cả máy bay, xe tăng, tàu ngầm, rồi những cỗ máy nông cụ. Máy gặt, máy tra hạt, máy bón phân. Có lão còn chế tạo được phân bón kích thích sinh trưởng rất tốt, đặc biệt là thuốc sâu, có thể diệt sâu rất hiệu nghiệm, nhưng lại không độc hại cho người. Có lão còn “nếm phân”, “nếm thuốc sâu” sáng chế ngay trước ống kính truyền hình. Phải nói là kỳ diệu. Trong khi chúng ta có rất nhiều tiến sĩ, viện sĩ, nhiều nhà khoa học, nhiều viện khoa học, nhưng những “phát minh” sáng giá lại chỉ thấy ở... nông dân. Họ thường không được học cao, nhưng họ lại tự đào tạo để thành tài. Còn việc thoát nghèo thì muôn hình vạn trạng...

- Vâng đúng. Có ông còn kinh doanh vịt trời mà mỗi năm thu đến 5, 6 tỷ đồng...

- Ở quê tôi xưa cũng có một lão nông như thế. Lão thoát nghèo rất sơ khai. Thời đó còn chưa đổi mới mà lão đã đổi đời rồi. Lão tên là Hai Cõn, chuyên nghề đóng cối xay lúa. Nghề đóng cối xay là nghề gia truyền của lão. Đóng cối chỉ cần vài thứ lặt vặt, rẻ tiền làm nguyên liệu. Một ít gỗ nhãn làm dăm, rồi làm ngõng. Chừng hai cây tre đực có gióng dài đan thân cối, áo cối. Rồi một chút đất sét giã với trấu. Thế là thành một cái cối xay hảo hạng. Ai chả đóng được. Nhưng đóng cối được như lão thì cũng chẳng có mấy ai. Cối lão đóng nhẹ mà lại chắc. Gạo chín đều. Cấm có một hạt lỏi. Thế nên quanh năm, lão không bao giờ hết việc. Công việc của lão là... vác mồm đi ăn cơm thiên hạ. Tuy làm khách thiên hạ, nhưng cả đời lão chỉ quanh quẩn ở các làng quê. Hết làng mình lại đi làng khác. Thế rồi chính lão lại là người có đầu óc cải cách. Chí ít, lão cũng góp phần biến cái làng ao tù nước đọng thành một con phố chính hiệu. Nghĩa là phố ra phố. Và nói như lão Cõn, thì đến Hà Nội cũng phải gọi bằng cụ. Số là khi làng có điện. Tất cả nháo nhác. Đời sống bị đảo lộn. Làng quê không còn giữ được vẻ êm ả xưa cũ như nó vốn có. Đài loa suốt ngày ca hát. Đi chỗ nào cũng eo éo, eo éo. Nhiều người thất nghiệp tự dưng lại có việc làm. Khối anh có nghề hẳn hoi mà bỗng chốc thành kẻ thất nghiệp. Lão Cõn cũng xoay theo cái vòng xoáy lốc ấy mà hóa ra anh ngẩn ngơ. Một cái làng bé như mắt muỗi mà có đến hai cái máy xát gạo. Chẳng ai dở hơi nghĩ đến việc mang thóc ra xay, giã nữa. Thế là lão mất nghề. Chẳng còn việc gì làm, lão lân la ra thành phố. Thoạt đầu cũng chỉ vì tò mò, muốn xem dân phố sống ra sao? Ai ngờ, lão trở thành kẻ... cứu làng. Điều làm lão ngạc nhiên là dân phố sống... khổ quá. Hóa ra nhiều tiền vẫn có thể rất khổ. Bởi họ chui rúc như chuột. Cả nhà sáu, bảy mạng người nhét trong một cái tổ tò vò bé tin hin như cái lỗ mũi. Chẳng nhà nào có cổng ngõ tử tế. Người chen người. Nhà chen nhà. Hàng trăm nhà mới có chung một cái sân. Mà sân cũng chẳng ra sân. Cứ dài nhằng nhẵng như cái mương nước. Đường phố mà lão nhìn thành cái mương nước thì lạ thật. Mương nọ nối mương kia. Xe cộ bò lổm ngổm như cua. Mà người thì lúc nào cũng đông đặc. Chẳng thấy họ đóng cối hay cấy gặt gì. Chỉ suốt ngày đi nhông nhông như chó dại. Thế mà sao họ vẫn có lắm tiền. Tiền họ kiếm ở đâu ra mà lắm thế? Sau một ngày đi chu du khám phá, lão mới phát hiện ra rằng, sở dĩ dân phố lắm tiền là vì họ đi buôn thôi. Các cụ nói rồi. Phi thương bất phú. Hà Nội quả là cái chợ giời khổng lồ. Nhà nào cũng đục cửa ra làm hàng quán. Hàng tiếp hàng. Liên miên. Bởi thế mà họ giàu. Giàu nên mới hay ăn. Nhìn đâu cũng thấy quán ăn. Ăn suốt ngày, ăn cả đêm. Mà toàn ăn những thứ vớ vẩn. Cóc, nhái, ba ba, rắn rết cũng thành của quý. Dân nhà quê chẳng coi những thứ ấy ra cái quái gì. Nhái là món tanh ngòm, chỉ có thể băm cho gà vịt. Thế mà dân thành phố lại lấy làm đặc sản, làm chả nhái. Khiếp. Rồi lại còn ba ba nữa. Ba ba cũng thành đặc sản. Mà đắt khét lẹt. Có khi đến ngót triệu bạc một cân ba ba. Bằng hơn một tạ gạo. Tương đương với mười cái cối xay lúa lão đóng. Rõ thật là cái giá cắt cổ. Vậy mà cái đám người rồ dại kia vẫn ăn rào rào. Ăn bởi họ lắm tiền. Thế là giời thương lão rồi. Giời cứu lão rồi. Chính do giời mách bảo mà lão nhận ra rằng, muốn giàu được thì phải bám thành phố. Nghĩa là cứ phải túm những thằng có tiền. Phải nghĩ ra cách rút tiền của bọn trọc phú phè phỡn. Chứ chỉ quanh quẩn trong cái xó làng thì cùng lắm cũng chỉ như cái lũ gà què ăn quẩn cối xay. Lão Cõn tức tốc trở về làng. Lão chuyển sang nghề săn bắt ba ba. Lấy ba ba làm mồi “câu” tiền của bọn thành phố trác táng. Thế là chỉ toòng teng một cái que tre vắt vẻo như cái thòng lọng của một anh thiến lợn nhà quê, sớm nào lão cũng đi rảo một vòng quanh các ao đầm. Ba ba là giống quen chui rúc ven bờ. Chỉ nhìn lướt qua, lão biết ngay ao nào có ba ba. Cứ thấy một đám tăm nhỏ đùn lên, xâm xâm trên mặt nước là lão cắm thẳng cái que tre xuống đó. Thế là ngay lập tức, quanh que tre sủi lên những cái bong bóng to bằng cúc áo. Đích thị là cậu chàng rồi. Cậu chàng rúc xuống bùn. Thế thì chẳng khác gì tự chui đầu vào cái rọ của lão. Lão chỉ khẽ lùa chân đè chặt, rồi luồn tay xuống bùn lật ngửa cậu lên. Thế là lão đã có một đống tiền đút túi. Cứ nhẹ nhàng, đơn giản như vậy, ngày nào, lão cũng vớ vài triệu bạc. Chẳng bao lâu, lão đã có hàng trăm triệu đồng. Rồi lão vật lên một cái nhà ngất ngưởng bốn tầng. Lão xây theo kiểu nhà thành phố. Cũng cửa kính, cũng ban-công. Cũng nội thất sáng choang. Nhạc giật uỳnh uỳnh. Trên nóc nhà là bể nước. Giếng khoan bơm lên, rồi chảy xuống các vòi roe róe. Đúng máy nước thành phố nhé. Thế là bắt đầu từ một lão phó cối thất nghiệp, cả làng lao vào làm giàu. Đám thanh niên, trai trẻ cũng lại nhao về thành phố tìm con đường làm ăn. Người mở đại lý đồ nhựa, người làm bồn tắm, làm vật liệu các công trình vệ sinh. Người không biết làm gì thì “đánh” chó, làm trạm trung chuyển, thu gom chó xuất cho Hà Nội. Làng đã triệt chó. Mấy chục năm nay, tôi chẳng trông thấy một con chó nào, vậy mà có một gã trai làng mỗi ngày cung cấp cho Hà Nội hơn một tấn chó. Thế mới lạ. Đối với gã, thành phố là một cái máy nghiền thực phẩm khổng lồ. Bao nhiêu chó lùa vào đó cũng chỉ như muối bỏ bể. Gã “đánh” chó mới được hơn một năm mà đã thành tinh. Cứ trông thấy gã là chó cúp đuôi lủi thẳng, tuyệt không con nào dám sủa. Hãi thế.

VŨ THU HÀ (ghi)

Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Những ông thần nông trên mặt đất

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐỌC NHIỀU NHẤT