Truyền dịch trong điều trị sốt xuất huyết ở tuyến dưới:

Những lưu ý đặc biệt

Suckhoedoisong.vn - Trong quá trình theo dõi điều trị cho bệnh nhân sốt xuất huyết có chỉ định truyền dịch, cần lưu ý ngừng truyền dịch tĩnh mạch khi chỉ số huyết áp và mạch trở về mức bình thường, có biểu hiện đi tiểu nhiều; có nghĩa là không cần bồi phụ dịch nữa sau khi bệnh nhân đã hết sốc trong vòng 24 giờ.

Tiếp theo số 59

Những lưu ý khi truyền dịch

Trong quá trình theo dõi điều trị cho bệnh nhân sốt xuất huyết có chỉ định truyền dịch, cần lưu ý ngừng truyền dịch tĩnh mạch khi chỉ số huyết áp và mạch trở về mức bình thường, có biểu hiện đi tiểu nhiều; có nghĩa là không cần bồi phụ dịch nữa sau khi bệnh nhân đã hết sốc trong vòng 24 giờ. Đồng thời cũng cần chú ý đến sự tái hấp thu huyết tương từ ngoài lòng mạch máu trở lại lòng mạch máu biểu hiện bằng chỉ số huyết áp, mạch bình thường và hematocrit giảm. Phải theo dõi triệu chứng phù phổi cấp nếu vẫn còn tiếp tục truyền dịch. Khi có tình trạng bù dịch quá tải sẽ gây ra suy tim hoặc phù phổi cấp, cần phải sử dụng thuốc lợi tiểu như furosemid từ 0,5 - 1mg/kg cân nặng mỗi lần dùng bằng đường tĩnh mạch. Trong trường hợp sau khi sốc phục hồi mà huyết áp kẹt nhưng các chi ấm dần; mạch chậm, rõ; đi tiểu nhiều thì không cần truyền dịch nhưng phải vẫn lưu kim ở tĩnh mạch và theo dõi tại phòng cấp cứu.

Theo dõi truyền dịch cho bệnh nhân. Ảnh: Trần Minh

Theo dõi truyền dịch cho bệnh nhân. Ảnh: Trần Minh

Đối với người bệnh đến bệnh viện trong tình trạng sốc đã được chống sốc từ tuyến trước thì phải điều trị như trường hợp bệnh nhân không được cải thiện, gọi là tái sốc. Cần lưu ý đến số lượng dịch đã được truyền từ tuyến trước để tính toán số lượng dịch sắp truyền vào cơ thể người bệnh. Nếu bệnh nhân là người lớn, có biểu hiện tái sốc thì chỉ dùng dung dịch cao phân tử không quá 1.000ml đối với dextran 40 và không quá 500ml đối với dextran 70. Khi diễn biến lâm sàng không thuận lợi, nên tiến hành đo áp lực tĩnh mạch trung ương (CVP) để truyền bù dịch theo chỉ số của áp lực này hoặc có thể dùng thuốc vận mạch nếu áp lực tĩnh mạch trung ương cao. Phải theo dõi sát mạch, huyết áp, nhịp thở, da, niêm mạc, tìm vị trí xuất huyết nội để có chỉ định truyền máu kịp thời. Thận trọng khi tiến hành thủ thuật tại các vị trí khó cầm máu như tĩnh mạch cổ, tĩnh mạch dưới đòn...

Nếu huyết áp vẫn còn kẹt, nhất là sau một thời gian đã trở lại mức bình thường thì cần phân biệt với các nguyên nhân hạ đường huyết, tái sốc do không bù đắp đủ số lượng dịch tiếp tục thoát mạch, xuất huyết nội, quá tải do truyền dịch hoặc do sự tái hấp thu.

Khi điều trị sốc, cũng cần phải chú ý đến việc điều chỉnh rối loạn chất điện giải và thăng bằng kiềm toan. Hiện tượng hạ natri máu thường xảy ra ở hầu hết các trường hợp sốc nặng kéo dài và đôi khi có toan chuyển hóa. Do đó, cần phải xác định mức độ rối loạn điện giải và nếu có điều kiện thì đo các loại khí ở trong máu với những bệnh nhân bị sốc nặng hoặc bệnh nhân không đáp ứng nhanh chóng với điều trị.

Khuyến nghị

Ngoài bệnh nhân sốt xuất huyết thông thường được điều trị ngoại trú và chỉ định bù dịch bằng đường uống, các trường hợp sốt xuất huyết có dấu hiệu cảnh báo và sốt xuất huyết nặng đều phải nhập viện và được chỉ định bù dịch bằng đường truyền tĩnh mạch với một số loại dung dịch cần thiết. Việc truyền dịch phải được thực hiện với một quy trình quy định; có sự theo dõi, giám sát chặt chẽ và cần lưu ý một số vấn đề để phòng tránh những hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra do việc truyền dịch mang lại. Nên nhớ rằng việc truyền dịch kịp thời rất cần thiết để cứu sống bệnh nhân sốt xuất huyết có dấu hiệu cảnh báo và sốt xuất huyết nặng nhưng cũng có thể mang lại những hệ lụy không tốt nếu không được theo dõi, giám sát chặt chẽ; vì vậy, cần quan tâm đến vấn đề truyền dịch trong điều trị sốt xuất huyết.

TTƯT.BS. Nguyễn Võ Hinh

 

 

Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Những lưu ý đặc biệt

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐỌC NHIỀU NHẤT