Những đứa con của núi

- Đỉnh núi ơi đỉnh núi, hãy đi theo núi là tới!

Câu nói cửa miệng của người Châu Mạ, Stiêng, Châu Ro mà tôi nghe được thật hồn nhiên nhưng hàm chứa cả sự quyết đoán. Tồn tại hay không tồn tại đều do khí thiêng sông núi định đoạt.

Ðất sống

- Đỉnh núi ơi đỉnh núi, hãy đi theo núi là tới!

Câu nói cửa miệng của người Châu Mạ, Stiêng, Châu Ro mà tôi nghe được thật hồn nhiên nhưng hàm chứa cả sự quyết đoán. Tồn tại hay không tồn tại đều do khí thiêng sông núi định đoạt. Miền đất hứa còn chăng hay chỉ là ảo tưởng? Khố trần với đôi chân đất, họ tạ lỗi núi đồi trước ngôi nhà sàn cũ nát để ra đi với một hoài bão lớn hơn - đó là sự no ấm và sinh sôi. Giàng hãy chở che và cưu mang lấy họ - những đứa con hoang lạc mà nền kinh tế hái lượm thời nguyên thủy đeo đẳng họ như một nỗi thống khổ, tổ tiên của họ là đâu - trên đỉnh núi cao kia, nơi có con chim đại bàng thường bay về đậu. Họ khao khát miền đất sống mãnh liệt như chinh phục các ngọn núi. Nhưng kì lạ thay, phía Nam con sông Đồng Nai, miền đất bazan màu mỡ thế - họ không đến trước để tìm chốn dung thân. Tôi đã thấy dấu tích của một ngọn núi lửa tắt ngấm từ bao giờ, đất đá bị nung chảy đen sẫm cả dải đất ven sông, trồng bất cứ cây gì cũng tốt tươi mơn mởn. Nhưng vì đấy là sự lựa chọn mang tính tự nguyện của mỗi sắc tộc. Khi tôi đặt chân lên bản Tà Lài này thì đã có vài chục hộ địu con dời đến một thung lũng khác cách vài tuần trăng. Phía xa kia là rừng cháy, ngọn lửa đã liếm lam nham gần hết một ngọn đồi, đám mây chở đầy mưa cũng vừa sầm sập lao đến, bầu trời đen sẫm lại như muốn úp chụp hết mấy căn nhà sàn lợp cỏ tranh đơn chiếc giữa một khoảng trống, không bụi bờ che chắn. Đất bị rang khô bỏng từng ngày, con sông Đồng Nai không chịu bốc hơi để làm dịu cơn khát cho cỏ cây, súc vật. Người Châu Mạ, Stiêng, Châu Ro lầm lũi sống, lầm lũi đi chân trần trong mùa gió nam chướng hâm hấp nóng. Họ không biết trồng cây lúa nước, mùa tra hạt trên nương còn lâu lắc lâu lơ. Cơn mưa lạc hồi chiều chỉ tổ làm khét đất, ngai ngái mùi tro cháy, mùi phân rác từ các nhà sàn bốc ra làm cho không khí vón cục, khó thở hơn. Ngày khô hạn, con trai vào rừng bứt mây, hứng từng giọt dầu chai, đêm thức trắng rình bắn thú, con gái xuống suối mò ốc, bắt cá, đeo gùi đi nhặt trái ươi, đào củ rừng kiếm cái ăn. Họ chọn vùng đất Tà Lài như một thử thách của số phận, đất không nuôi nổi họ, chỉ có rừng là tất cả sự sống còn. Họ là những đứa con của núi, bản năng hoang dã cứ thôi thúc họ đi trong miên man bóng râm của cây lá. Chốn dừng chân là đâu? Dãy Nam Cát Tiên xanh ngắt phía xa kia đã loại trừ họ để tránh sự tàn phá với mục đích kiếm ăn sẽ làm mất đi rẻo nguyên sinh còn sót lại duy nhất của rừng miền Đông. Người Châu Mạ, Stiêng, Châu Ro giờ không còn lối thoát. Cuộc sống du canh du cư đã làm cho các sắc tộc này rã rượi, mất dần sinh lực. Ủy ban huyện Tân Phú dựng cho 20 căn nhà gỗ khang trang, chi gần nửa tỷ bạc nhưng vô ích. Đồng bào bảo - mình không quen sống như vậy! Mấy năm gần đây, Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai lại tiếp tục chi một khoản kinh phí rất lớn để xây dựng một làng văn hóa dân tộc cho họ nhưng cũng không thể nào cầm giữ được. Thế là họ tiếp tục đi như một cuộc lữ hành bất tận. Bản Tà Lài hơn 100 hộ người dân tộc Châu Mạ, trong đó có 32 hộ tách hẳn đi sâu vào vùng đất đỏ Lâm Trường 4, còn lại 120 hộ người Stiêng sống ở Bù Cháp. Thú hết, củ quả hết, mây măng và đến cả cây rừng cũng sắp sửa lụi tàn. Họ sẽ sống bằng gì? Câu hỏi đó cứ váng vất trong đầu tôi suốt mấy chục cây số băng đèo lội suối. Họ chọn một thực cảnh như thế để thách đố hay để tự tiêu vong trong vài thập kỉ tới. Ông tư K’lư - già làng của bản Bù Cháp, thời chống Mỹ từng làm huyện ủy viên Tân Phú nói với tôi bằng tiếng Kinh rất sõi:

- Hồi đi đánh cái giặc thế mà no. Giờ trên 70 tuổi, mắc chứng sốt rét không có thuốc chữa. Yếu cái sức quá, đói cái bụng quá phải bán bộ ván ngựa gõ dày một gang tay để ăn. Đêm ngồi rình thú ở rừng Nam Cát Tiên chạy lạc ra rìa bản bắn. Con nào được đánh dấu là của ông Nhà nước nuôi, con nào không đánh dấu là của mình!

Ông vừa nói vừa cười khùng khục, cái miệng cà răng sát tận lợi đen xỉn, tai căng lỗ rỗng toác rung rung trông rất ngộ. Tôi đi sang nhà K’Bôn, thấy người lạ, lũ trẻ cả chục đứa đen bóng, trần truồng chạy theo nhìn tôi ngơ ngác. Có một thằng bé khác tay cầm con chuột nướng đen trũi cũng nhảy ra nhập bọn như rồng rắn, bụi bốc mù mịt phía sau lưng. K’Bôn có đến 3 vợ, anh theo kháng chiến được Nhà nước khen tặng 2 Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất. Bản Bù Cháp đã từng đốt làng không cho giặc phá, từng khoét hầm chui xuống đất để tránh pháo bầy, bom giội. Nay, họ có ý định dời bản đi nữa. K’Bôn nói:

 - Anh em mình từ xa đến quý lắm nhưng không có rượu cần để uống, mất mùa rẫy đói nặng, lấy đâu ra bắp lúa?

Tôi thấy 3 cái ché bẩn bụi nằm lăn lóc dưới chân cột, phía trước nhà K’Bôn xác xơ cỏ cháy, những con trâu đói cũng không gặm nổi. Mấy dãy nhà sàn lợp tôn lóa nắng, khen khét mùi người, mùi ẩm mốc như vây bọc họ đến ngột ngạt, quắt queo. Bản tính chịu đựng thật ghê gớm. Họ là thế, những dân tộc vốn không chịu khuất phục. Thiên nhiên khắc nghiệt nhưng họ vẫn tồn tại theo một sắc thái riêng. Cái ở, cái ăn, cái mặc... mà tổ tiên trao gửi, họ vẫn còn lưu giữ cho đến ngày nay dẫu bên kia sông Đồng Nai đã có một nền văn minh khác.

Những đứa con của núi 1
 Nhà cất lương thực của người Mạ.

Ðêm nghe núi trở mình

Ánh lửa cà boong của ngôi nhà sàn bừng cháy, dâng sáng bốn chung quanh. Cơn mưa lạc hồi chiều cũng làm đêm dịu dàng đôi chút, núi rừng không còn hình bóng. Chỉ có nhiều gương mặt màu đồng hun của người Châu Mạ, Stiêng đen nhẫy lên như thân cây gõ mật, giữa hai khoảng sáng – tối, tôi đã nhận ra, một khắc khổ võ vàng vì đói bệnh, một bạo liệt, hoang dã mà tổ tiên trao gửi trong huyết quản đâu dễ phôi phai. Hai ché rượu cần cao nửa mét được anh K’Líu, chủ nhà bê ra để đón mời khách quý. Nó là thứ nếp lứt được ủ chín lâu ngày bốc men thơm nồng nả, ngọt đấy nhưng dễ say ngất ngư không tìm được lối về.

- Hãy uống xoay vòng mỗi người một cò, chừng nào cạn ché ấy là cạn đêm (chủ nhà bảo thế). Lòng người Châu Mạ, không ẩn trắc, làm phản. Thiếu cái ăn nhưng họ không thiếu cái tình. Mồi nhắm chỉ là đĩa đọt mây chấm muối ớt. Cắn vào đắng hơn kí ninh nhưng ngọt tê đầu lưỡi khi vít cong cần rượu.

- Uống để cầu chúc cho nhau chân cứng đá mềm, con trai cường tráng, con gái đẹp xinh, đàn bà mắn đẻ, con nít không bị Giàng bắt. Cầu cho mưa thuận gió hòa, rẫy nương lắm lúa, suối khe lắm con ốc con nhái, rừng nhiều măng nhiều củ quả!...

Tôi uống đến cò thứ tư, mỗi cò tương đương với một lon bia, say lữ lã. Ngày lễ hội mùa của người Châu Mạ, Stiêng đã qua từ trong năm nhưng không khí của nhà K’Líu vẫn còn đấy âm hưởng. Già làng thấy có khách bèn chạy về đóng khố, con gái mặc váy áo đẹp hơn, trẻ con túm tụm chật cả sân, chúng múa hát theo những làn điệu dân ca Châu Mạ đầy biến tấu. Trăng ở rừng huyền ảo sáng, ánh lửa cà-boong xuyên qua vách nứa lúng liếng, run rẩy, tiếng mển tác phía xa xa nghe thật hoang dã, núi trở mình trong tiếng gió khuya, suối thao thiết chảy, âm vọng của đêm thật sâu nhưng lắng đọng.

Men rượu cần ngấm ngọt vừa đủ tỉnh táo để tôi cảm nhận hết tất cả những gì xảy ra ở đây. Đêm trong lành như hồn người Châu Mạ, Stiêng, sự gần gũi muôn đời với thiên nhiên làm cho họ giàu lòng chân thật. Yêu thương nhau thì tìm đến, ghét nhau thì ra rừng sống với cọp beo. Họ là thế. Tôi thấy mình hòa nhập vào cộng đồng ấy, dòng máu tiền sử hồi sinh trong con người họ. Lửa và rượu - dĩ vãng và thực tại thật khó phân định. K’Líu đã mời hết chín vòng cò, hai ché rượu cạn khô tận đáy. Bà vợ xinh đẹp cũng đã mặc sẵn bộ váy áo tự thêu thật sặc sỡ đến ngồi lặng lẽ bên chồng tiếp khách, thỉnh thoảng lại nhìn lén một anh chàng đẹp trai người Kinh đang thả vòi rượu ngật ngưỡng tựa lưng vào vách liếp.

Đêm rượu cần làm cho họ quên hết mọi đắng cay, lam lũ của ngày hôm qua.

Ðối thoại với ngày mai

Người Châu Mạ, Stiêng, Châu Ro còn rất ít ỏi, họ sống rải rác từ Vĩnh An xuống Định Quán, qua Tân Phú đến Tà Lài - một dải đất cằn cỗi đầy biến động của thiên nhiên. Cuộc sống du canh du cư đã làm cho đời sống kinh tế, văn hóa của những sắc tộc này cứ mai một dần. Tôi chưa dám nghĩ đến sự tuyệt chủng nhưng cái đói, bệnh tật và tình trạng hữu sinh vô dưỡng đeo bám thì sự tiên liệu ấy không phải thiếu cơ sở xác thực. Có những cặp vợ chồng sinh 5 người con, chết mất 4, đứa còn lại cũng quắt queo, yểu mệnh. Tôi qua bản Bù Cháp, tắt xuống Tà Lài rồi đi bộ nửa ngày đường vào vùng đất đỏ Lâm Trường 4, trẻ con của những làng bản heo hút này ít ỏi vô cùng. Chúng ăn mặc phong phanh, rách rưới, bệnh tật không có thuốc men để chữa. Những vị thầy mo thầy cúng có giá trị hơn thầy thuốc đích thực. Trường học vắng tanh vắng ngắt, cái chữ của người Kinh còn quá ư xa lạ. Muốn vực dậy sức sống cho một sắc tộc là kinh tế, văn hóa và khoa học kỹ thuật, cả ba yếu tố ấy hình như quá xa vời, không tưởng. Những gì mà người Châu Mạ, Stiêng, Châu Ro còn lưu giữ được ấy là mọi tập tục sinh hoạt mang tính bộ lạc vẫn còn nguyên dạng, họ chưa hề bị phai lẫn vào một nền văn minh nào khác. Từ giọng nói cho đến sắc phục, từ ma chay đình đám cho đến cưới xin vẫn có những đặc điểm mà các dân tộc ở Tây Nguyên, Lâm Đồng đều na ná giống nhau, quan niệm về thế giới thần linh cũng thế, trong trí tưởng tượng của họ vẫn có một thế lực siêu nhiên nào đó đầy ma quái chế ngự toàn bộ cõi tinh thần của mỗi sắc tộc ở đây.

Ngày mai của họ cũng có nghĩa là ngày hôm qua, biến động của thời gian chỉ làm tàn lụi đi những gì còn sót lại, thật là tiếc khi nghĩ tới điều này. Nguồn cội của họ là đâu, ngay cả những già làng đều lắc đầu không hay biết. Họ là những đứa con của núi - có lẽ thế?

Khi con đò tròng trành chở tôi về phía bờ Nam, trong lớp sóng dào dạt khua còn có cả dư âm tiếng hát của K’Rỉn, con chim sơn ca của núi rừng Nam Cát Tiên cất tiếng chào buồn nhưng chứa chan niềm khát khao,  hy vọng:

Cò ơi vì sao cò màu trắng như vậy

Ta đây mơ ước mà không được hỡi cò?

K’Rỉn ơi, ngày mai trở về thành phố, tôi sẽ tản mạn với bạn bè tôi về cái màu trắng tinh khiết ấy, không phải của cò đâu mà của chính tâm hồn người Châu Mạ hội tụ vào em đó.      

Bút kí của NGUYỄN HOÀI NHƠN

Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Những đứa con của núi

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐẶT CÂU HỎI & NHẬN TƯ VẤN MIỄN PHÍ TỪ CHUYÊN GIA
ĐỌC NHIỀU NHẤT