Nhớ Tết quê xưa

Suckhoedoisong.vn - Đối với những người sống xa xứ như tôi, kỷ niệm về Tết quê thật khó phai mờ. Ký ức tôi còn lưu giữ hình ảnh những cái Tết tuổi thơ thời bom đạn Mỹ chưa rơi xuống làng.

Đối với những người sống xa xứ như tôi, kỷ niệm về Tết quê thật khó phai mờ. Ký ức tôi còn lưu giữ hình ảnh những cái Tết tuổi thơ thời bom đạn Mỹ chưa rơi xuống làng.

Tết! Chao ơi, chỉ mới nghe ai nhắc đến Tết, bọn lau nhau lít nhít chúng tôi đã khấp khởi mừng vui. Chẳng riêng gì tôi, lũ con nít trong làng đứa nào cũng tíu tít khoe Tết nhà mình. Nào áo đẹp, nào dép mới, nào được bà hay mẹ dẫn đi chợ, nào bố cho tiền mua pháo… Cứ thế, từ nửa tháng Chạp đã ríu ra ríu rít chuyện Tết.

Đì đùng tiếng pháo nổ từ hôm nhà nhà đưa ông Táo về Trời. Lũ trẻ con nháo nhít nhặt những quả pháo tịt nằm lặng im giữa đống giấy vụn màu hồng, đút túi. Bọn con trai đứa nào túi cũng đầy pháo tép, pháo tịt. Đấy là gia tài quý báu của tuổi thơ mà đến bây giờ khi nhớ lại tôi vẫn còn rưng rưng, ngỡ vẫn còn đâu đây tiếng kêu tì tạch của lũ pháo nhép thuở nào.

Bà đưa tôi đi xem chợ Tết. Chợ xã đông ơi là đông, người chen người, hàng chen hàng, chào hỏi, bán bán mua mua, ồn ào lao xao. Món hàng bà tôi mua đầu tiên khi đến chợ là trầu cau. Bà nói, mua trầu cau là mua lộc, mua may. Thời bé, tôi không hiểu lắm ý nghĩa câu nói của bà, chỉ biết đi chợ Tết thật vui. Bà dắt tôi đến hàng hoa chọn mua mấy bông vạn thọ để về cắm trên bàn thờ. Hoa thọ mùi hơi hăng hắc nhưng màu vàng tươi sáng. Nó mang tên vạn thọ nên dân quê tôi ưa thích, mua về cắm Tết cầu may. Ngoài vạn thọ, ở chợ quê người ta còn bày bán hoa mai, hoa thược dược, hoa cúc...Trước ba mươi Tết, ba tôi mua một cặp câu đối, vài bức tranh phong cảnh dán lên vách. Ông còn mua tờ giấy đỏ dùng phấn vàng viết lên câu Chúc mừng năm mới theo kiểu thư pháp thật bay bướm. Bọn bạn đến nhà, tôi tủm tỉm khoe, đứa nào cũng khen nức nở.

Anh em tôi được ba mẹ may cho mỗi đứa một bộ áo quần mới. Đến tối ba mươi vẫn chưa được mặc vì sợ bẩn hoặc ngủ đêm lỡ đái dầm. Sáng mồng một, mẹ tôi gọi cả lũ dậy, rửa mặt xong mới cho mặc áo quần mới. Mùi vải thoang thoảng thơm tho. Bà nội, ba mẹ mừng tuổi cho mỗi đứa một hào màu đỏ, tươi rói.

Sáng mồng một, xóm làng im ắng lạ. Trên đường không mấy người đi. Chỉ có gió xuân se se thổi và mưa bụi nhẹ nhàng bay. Chờ ba mẹ đưa đi chúc Tết mà không thấy ai nói gì. Hỏi bà, cái giọng trầu cay cất lên trìu mến: “Cháu ơi, sớm mồng một chưa ai đi chúc Tết mô, họ sợ mình tới đạp đất mà trong năm nhà người ta gặp rủi sẽ bị oán”. Chờ mong lâu lâu rồi cũng được ba mẹ đưa đi chúc Tết. Đến nhà ai ba mẹ cũng kính cẩn châm hương cúi lạy trước bàn thờ xong mới quay sang chúc Tết mừng xuân những người trong gia đình. Ba mẹ lấy tiền mừng tuổi trẻ con trong nhà, cũng chỉ một hào thôi và chúng tôi cũng được gia chủ mừng tuổi lại. Túi tiền năm mới của những thằng cu, con bẹp như tôi đầy dần những hào bạc tươi thắm, thơm tho. Có lúc trong giấc mơ tôi vẫn thấy chúng bay bay trước mặt. Hồn nhiên như những cánh bướm mùa xuân.

Tết, nhiều chuyện vui lắm. Nhưng có lẽ vui nhất là các trò chơi do làng tổ chức. Đánh đu. Cướp cù. Kéo co. Đua thuyền. Hát bài chòi. Trò nào cũng nhộn nhịp, cũng đầy ắp tiếng cười đùa. Trò cướp cù hay được tổ chức trên một bãi cỏ xanh mướt sắc xuân. Những anh trai trẻ lực lưỡng được chia làm hai phe bằng nhau. Giữa bãi cỏ, một đường ranh giới được vạch ra chia đôi sân chơi cho hai đội. Từng đội dàn hàng ngang đứng sẵn ở đường biên cuối sân hồi hộp chờ đợi tiếng hô xung cuộc. Quả cù làm bằng gốc chuối, trong ruột nó đã được khoét rỗng nhét đầy đồng xu đồng hào. Số tiền nằm trong đó là phần thưởng của đội thắng cuộc. Vị trưởng làng đầu chít khăn đỏ, trịnh trọng đặt quả cù vào giữa đường ranh giới, giơ tay ra lệnh. Tiếng trống nổi lên thùng thùng. Hai phe ào lên tranh giành, vật lộn, tranh cướp cù. Hò reo. Cười hét. Tiếng người hòa tiếng trống thùng thùng, tiếng thanh la phèng phèng, tiếng mõ cốc cốc thật náo nhiệt. Cứ gọi là ồn ã tưng bừng một góc trời. Phe nào cướp được cù mang về đường biên đội mình là chiến thắng. Quyết liệt lắm nhưng không hề có chuyện chơi ác, chơi xấu vì ai cũng biết rằng nếu mình làm hại người chơi thì sẽ bị thần linh trừng phạt, năm ấy làng gặp nhiều đen đủi rủi ro. Kéo co, đánh đu, đua thuyền… cũng thu hút được nhiều nam thanh nữ tú đến chơi. Chỉ là những trò chơi dân gian muôn năm cũ sao mà khỏe khoắn tươi vui hồn nhiên lạ.

Ngày Tết, làng tôi còn có hát bài chòi. Thuở bé, tôi cũng lẽo đẽo theo ba đi xem nhưng không hiểu mấy. Sau này, lớn lên, tìm hiểu kỹ mới thấy hết cái hay của trò này. Thực ra bài chòi gần với thể loại sinh hoạt văn nghệ dân gian hơn là trò chơi đơn thuần. Người làm cái - một nghệ nhân giỏi hò hát, ngâm xướng thơ ca làm trò, chễm chệ ngồi trên chòi, trước mặt đặt một ống tre đựng 36 con bài được gọi là bài tới. Mười hai hoặc mười người chơi ngồi trên mười hai hoặc mười chiếc ghế dựa chia làm đôi hàng đối diện nhau chầu vào hai bên trái phải của chòi cái. Mỗi thành viên chơi bài chòi được chia ba quân cờ và ngồi chờ cái  bắt trong ống thẻ bài và hô lên. Hay ở chỗ là trước khi cái hô tên con bài thì ông sẽ hò hát một điệu dân ca gì đó với lời lẽ mô tả hình dáng hoặc ý nghĩa con bài rút ra. Hô bài, cái có thể hò khoan, hát tuồng, hát dặm, ngâm thơ, đọc vè, ra câu đố mang tính văn chương hay làm một trò hề nào đó. Người chơi nghe cái ngâm xướng diễn tả và so sánh với các con bài của mình để biết được mình trúng hay không. Nếu trúng ba quân bài trong tay mình thì hớn hở đánh lên một hồi mõ dài báo hiệu chiến thắng, trúng một quân thì chỉ cốc cốc cốc ba tiếng mõ báo tin người cầm trịch chạy đến trao cho một lá cờ đuôi nheo. Một hội chơi có ba ván nếu là mười ghế người chơi và mười ván nếu là mười hai ghế chơi. Qua một ván, nếu trúng luôn ba quân, người chơi được tặng một lá cờ vuông và một phần thưởng be bé, khoảng tám phần mười tiền vé bỏ ra trước khi chơi. Người trúng liền ba cờ vuông trong một hội thì ngoài phần thưởng nhỏ của mỗi ván còn được thưởng pháo, rượu và được hát tặng một bài chúc tụng riêng do ông cái ứng khẩu tại chỗ. Chan hòa cùng giọng hát của cái có tiếng nhạc, tiếng mõ đệm theo khi réo rắt, lúc rộn ràng. Đây là sân chơi của các bậc cao niên, những bậc túc nho, những người sành ca hát, ngâm vịnh.

Trong mấy ngày Tết, dân quê tôi còn tổ chức hò giao duyên đối đáp. Khi đã trưởng thành, tôi xem lại nội dung các câu hò mới thấy nó tình tứ, hóm hỉnh làm sao. Người con gái cất lên: “Ba ba nấu cháo ba ba, tam tam như cửu, hỏi anh đà chín chưa?”. Người con trai đáp lại: “Cầu hai nước chảy phân hai, nhị nhị như tứ, xin em chớ theo ai bốn lần”. Cũng có lúc người con gái táo bạo hỏi: “Con rắn không chân, rắn nhờ chi rắn đi mười ngọn rú, con gà không có bụ gà nhờ chi nuôi đủ mười con? Trai nam nhi đối được gái gá nghĩa nước non suốt đời” thì chàng trai đã nhũn nhặn trả lời: “Con rắn không chân có cái thân dài uốn oánh, con gà không bụ nhờ đôi cánh ấp con, trai nam nhi đã đối đặng, gái đã gá nghĩa nước non hay còn chờ?”. Tinh nghịch trêu ghẹo nhau như thế này thật tình tứ thú vị. Con gái: “Anh về ở với em, em may cho anh một năm ba quần ba áo, em sắm cho anh một nón dấu một mẩu tơi mo, ngày anh ra đồng cuốc ruộng, ăn ở thật thà em thương!”. Và những chàng trai sinh ở cuối dòng sông Gianh cũng đối đáp lại thật hay: “Anh ở với em, em sắm cho anh một năm ba quần ba áo, em sắm cho anh một nón dấu một mẩu tơi mo, ngày anh ra đồng cuốc ruộng, tối em cho ngủ nhờ mới vâng!”. Chàng trai đa tình quê tôi gần như lặp lại toàn bộ lời cô gái, chỉ “biên tập” chút xíu ở đoạn cuối cùng thôi là “tối em cho ngủ nhờ mới vâng”. Trời ạ, “ngủ nhờ” là ngủ kiểu răng đây, có phải đâu như thời con nít mà ngây thơ chơi trò chồng vợ nữa…

Thời yên lành đó chấm dứt khi đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại ra miền Bắc. Chúng tôi phải rời làng đi sơ tán. Tết thời chiến đơn sơ, thiếu thốn nhưng tình người vẫn ấm áp. Chính cái tình người ấm áp, mộc mạc ấy làm cho tôi đi đâu, ở đâu cũng đau đáu thương nhớ về quê nhà. Dư vị Tết quê xưa vẫn hằng lưu giữ đậm đà trong tôi như những trang tuổi thơ không bao giờ cũ kỹ. Những trang mới của cuộc đời sẽ mở nhưng với tôi, quá khứ vẫn luôn trở về như bao gợi nhắc yêu dấu. Bà tôi, ba mẹ tôi đã thành người thiên cổ nhưng sông núi quê nhà vẫn vẹn nguyên đó. Có lẽ vì thế, khi những ngày cuối cùng của năm âm lịch khép lại, tôi lại càng nhớ quê, nhớ Tết xưa hơn. Không riêng gì tôi, ai xa xứ chắc cũng đều như thế cả, Tết ơi!

Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý

Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Nhớ Tết quê xưa

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐỌC NHIỀU NHẤT