Nhịp nối của đất trời

Suckhoedoisong.vn - Trong đời sống tâm linh của đa số các dân tộc anh em trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam, nén hương luôn được coi là thứ quan trọng nhất trong mọi nghi lễ.

Trong đời sống tâm linh của đa số các dân tộc anh em trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam, nén hương luôn được coi là thứ quan trọng nhất trong mọi nghi lễ. Đó vừa là sản phẩm mang tính vật chất, vừa là sản phẩm tinh thần thể hiện sự sùng kính thiên nhiên, trời đất, sự biết ơn các bậc thánh thần có công với dân, với nước, thể hiện đức hiếu sinh đối với tổ tiên ông bà và sự nhân ái, hướng thiện trước những oan hồn lang thang, vất vưởng. Mỗi dân tộc, tuỳ theo quan niệm tín ngưỡng của mình mà có cách thức tạo nên cây hương khác nhau và thường họ chỉ dùng những nén hương do chính người của dân tộc mình tạo ra.

Sản phẩm của đức tin

Các nhà nghiên cứu xã hội học đã chỉ ra hàm ý biểu trưng trong mỗi nén hương là: thân hương bằng cật tre là biểu tượng của niềm tin bền vững. Màu vàng và đỏ của hương tượng trưng cho chiến thắng vinh quang và sự ngộ đạo. Mùi thơm của hương chiết xuất từ nhựa cây cũng đem tới sự sinh sôi, phát triển. Hình dáng nén hương ở thế đứng thẳng được xem như một nhịp cầu nối kết giữa trần gian và tiên giới, người sống và người đã khuất và cả ba cõi trời, đất, người được nối liền bằng chiều dài của nén hương.

Một cụ bà người Mông và hai cụ bà người Giáy bày bán hương tại phiên chợ Dào San, Phong Thổ, Lai Châu.

Đối với người Kinh thì việc thắp hương đặc biệt được xem trọng và đề ra các thao tác như một nghi thức bắt buộc. Trên bàn thờ gia đình thường đặt các bát hương bằng sứ trắng men xanh lam có vẽ hình rồng phượng. Ban thờ dòng họ hoặc các đình chùa thì còn có thêm lư hương đồng thể hiện sự uy phong hay thịnh vượng của dòng họ, thôn làng ấy. Đứng trước ban thờ phải hết sức nghiêm trang, người cúi thấp vái lạy rồi miệng khẽ khàng dâng văn khấn. Nhiều người tin rằng lòng thành sẽ cảm động được thần thánh nên mặc dù do độ ẩm, độ khô, độ ngậm lửa hay châm lửa quá to tự nhiên làm nén hương gãy khúc hoặc cháy bùng… họ vẫn tin đó là điềm báo thần linh đã chứng nhận cho mình. Người Kinh thường thắp hương vào ngày rằm, mùng một và những ngày giỗ của tổ tiên, người thân trong gia đình. Thậm chí khi đi vãng cảnh chùa chiền hoặc một địa chỉ tâm linh nào đó thì dù có vào ngày thường họ vẫn thắp hương như cẩn cáo với các vị thần cai quản vùng đất ấy biết sự thăm viếng của mình.

Đối với một số dân tộc cư trú tại các tỉnh miền núi phía Bắc như Mông, Tày, Thái, Giáy, Dao… thì nén hương cũng là thứ không thể thiếu trong mỗi dịp cúng bản, tế lễ hay cấp sắc bùa… Dẫu bát hương hoặc nơi thờ cúng của họ khá đơn giản nhưng không vì thế mà sự thiêng liêng của nén hương bị xem nhẹ. Nếu tìm hiểu kĩ về cách làm hương và dâng cúng của họ, ta sẽ thấy ẩn chứa trong đó nhiều quan niệm nhân sinh quan thú vị. Có một đặc điểm chung của các dân tộc khi làm hương là để tránh cho nén hương bị tắt giữa chừng và thắp hương lộn ngược, nhất thiết khi chẻ tăm hương phải phân biệt đâu là phần ngọn, đâu là phần gốc rồi người ta nhuộm phẩm đỏ khoảng 1/3 thẻ hương phần gốc, 2/3 còn lại để sau này lăn bột đốt hương.

Hương do đồng bào các dân tộc tự làm không chỉ được dùng trong gia đình mà còn mang đi bán. Tôi từng được xem các cụ già người Mông, Giáy cõng quẩy tấu chứa đầy hương xuống bán ở phiên chợ Dào San. Các bó hương thường có khoảng 50 nén với giá bán trung bình từ mười đến mười lăm nghìn đồng mỗi bó. Dọc theo lối chợ, những người bán hương thường ngồi thành dẫy dài sát cạnh nhau, hương được đặt trong thồ và có hai bó gác lên cao cùng một nén hương đốt làm mẫu cho khách hàng biết mùi thơm và chất lượng hương.

Dãy hàng hương tại phố cổ Đồng Văn, Hà Giang.

Sắc màu của tâm linh

Với các dân tộc Mông, Tày, Dao… thì nén hương được coi là chuẩn mực của bà con là nén hương được làm từ vỏ các loại cây trong rừng, mang mùi thơm đặc trưng, nghĩa là nhẹ mà thanh, không sực nức nhưng lại phảng phất rất lâu. Hương của các dân tộc thiểu số cũng giống như nén hương của người Kinh song kích cỡ thường to hơn và thân nén nhang cũng dài hơn. Đôi khi các nhóm ngành cùng dân tộc nhưng địa bàn cư trú khác nhau thì họ đều chế ra một loại hương riêng do nguyên liệu và tỉ lệ trộn có đôi chút xê dịch so với sản phẩm truyền thống.

Thông thường, những người già của bản Mông tự tay tìm vỏ cây, lá hương liệu để làm ra hương và sẽ truyền lại cho con cháu khi mình gần khuất núi. Người Mông ở Si Ma Cai chuộng loại hương có màu vàng tươi, bột hương được sàng lọc kĩ nhiều lần từ những loại vỏ cây truyền thống đã giã nát và ngâm ủ theo qui trình. Người Mông ở Bắc Hà lại dùng loại vỏ của các cây giàu tinh dầu để chế thành một loại hương màu đỏ son và mùi hương thơm hắc, nếu không ngửi quen sẽ có cảm giác choáng váng, mệt mỏi. Người Mông ở Dào San, Lai Châu lại tạo cho “nhịp nối” của mình màu đất đồng đang mùa phơi ải.

Người Tày thì cầu kì hơn khi sử dụng chính những rừng quế bạt ngàn của dân tộc mình để tạo nguyên liệu làm hương. Những thanh quế cay nồng với mùi thơm không lẫn được với bất cứ thứ thành phần nào được nghiền và trộn cùng một loại keo dính có nguồn gốc thiên nhiên sẽ tạo ra những nén hương có màu nâu đỏ, hương thơm đậm và có vị ngọt như ta đang thưởng thức một mẩu quế nhỏ vậy. Có lẽ chính bởi sự khác biệt trong phối hợp nguyên liệu bột hương này mà các dân tộc hầu như không sử dụng hương của nhau dù cho họ có ở liền bên vách nhà nhau.

Bên cạnh đó, cũng có một cách tạo bột hương khác khá độc đáo của người Giáy và người Pa Dí. Người Pa Dí ở Mường Khương, Lào Cai thường chế ra một loại hương màu xanh nhạt, có mùi hăng làm từ những lá thảo mộc và hoa cỏ đặc trưng. Còn dân tộc Giáy thì ở bất kì địa bàn nào cũng có cách làm hương cầu kì hơn. Họ vào rừng sâu lấy lá cây lộng-xeng đem phơi khô, giã nhỏ thành bột mịn, sờ không cảm thấy ráp tay. Rồi bột được trộn cùng với tro bếp, rắc đều để bột bám trên thân tăm hương. Chính loại bột này đã khiến nén hương của người Giáy có màu xanh rêu đẹp mắt và hương thơm dịu.

Ngày nay, nghề làm hương tuy không có giá trị cao về kinh tế nhưng cũng được coi là một nghề phụ giữa lúc nông nhàn của các gia đình còn giữ nghề làm hương truyền thống. Không chỉ có vậy, nén hương thơm, đời này qua đời khác còn giữ vai trò phản ánh trình độ lao động sản xuất thủ công và đời sống tâm linh của các dân tộc đồng thời tạo nên một nét văn hoá, một phong tục đẹp của đất nước và người dân Việt.

Phạm Vân

Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Nhịp nối của đất trời

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐỌC NHIỀU NHẤT