Nhìn từ trào lưu Việt hóa phim nước ngoài: Bao giờ hết “khát” kịch bản hay?

Suckhoedoisong.vn - Năm 2015 khép lại với tín hiệu vui từ bộ phim Em là bà nội của anh (đạo diễn Phan Gia Nhật Linh).

Năm 2015 khép lại với tín hiệu vui từ bộ phim Em là bà nội của anh (đạo diễn Phan Gia Nhật Linh). Em là bà nội của anh được đánh giá là bộ phim “tử tế”, đáng xem với nhiều tình tiết mới lạ, hấp dẫn cùng thông điệp phim giàu tính nhân văn. Ðiều đáng quan tâm là, Em là bà nội của anh được Việt hóa từ bộ phim ăn khách Miss Granny của Hàn Quốc. Phải chăng dòng phim Việt hóa đang lên ngôi và sẽ là “cứu cánh” cho điện ảnh Việt?

Làn gió mới từ trào lưu phim Việt hóa

Tính đến hết ngày 10/1, Em là bà nội của anh đã chạm mốc 1 triệu lượt người xem tại Việt Nam. Đây thực sự là tín hiệu đáng mừng cho điện ảnh Việt những ngày đầu năm 2016. Doanh thu của bộ phim không ngừng tăng lên và Em là bà nội của anh cùng Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh (đạo diễn Victor Vũ) được đánh giá là hai bộ phim ấn tượng nhất trong năm 2015. Sự thành công của Em là bà nội của anh trước hết nằm ở chỗ kịch bản hấp dẫn, mới lạ, vừa lạ lẫm, vừa thân thuộc, vừa phi lý mà lại rất gẫn gũi. Cùng với đó là chiến dịch PR bài bản cùng dàn diễn viên xinh đẹp, quy tụ nhiều nhân vật đang “hot” của làng giải trí như Miu Lê, Ngô Kiến Huy, Hứa Vĩ Văn, Hồng Ánh...

Theo đánh giá của nhiều khán giả, kịch bản phim Em là bà nội của anh có nhiều nút thắt, mở với tình huống đan xen liên tục khiến người xem đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Cuộc sống đối lập của nữ nhân vật chính ở thế giới buồn tẻ, chua sót với thế giới tươi mới, trẻ trung được kết nối bằng những tình tiết hài hước xen lẫn tình tiết xúc động. Em là bà nội của anh đã thành công trong việc đẩy cảm xúc khán giả lên đến tận cùng, khán giả có thể thoắt khóc, thoắt cười cùng nhân vật. Một điểm thành công nữa của Em là bà nội của anh đó là đưa được những chi tiết Việt vào phim một cách nhuần nhuyễn, không gượng ép, phim gần gũi, mang không khí Việt, phù hợp với văn hóa, lối sống người Việt chứ không “đậm chất Hàn” như một số phim Việt hóa trước đó.

Trước Em là bà nội của anh, phim Yêu (đạo diễn Việt Max), phim Việt hóa từ bộ phim The love of Siam của Thái Lan cũng nhận được nhiều phản ứng tích cực từ khán giả. Yêu đề cập đến vấn đề khá nhạy cảm trong xã hội là tình yêu đồng tính nữ. Phim đã mang đến cho khán giả những hình ảnh đẹp, cảm xúc chân thật về tình yêu, cho dù đó là tình yêu đồng tính. Mối tình đồng tính giữa Tú (do Gil Lê thủ vai) và Nhi (do Chi Pu đóng) trong sáng, dễ thương và đáng được trân trọng như bất kỳ mối tình dị tính nào khác. Cách diễn đạt, kể chuyện trong phim khá lôi cuốn, tiết phim logic. Mặc dù còn nhiều ý kiến khen, chê khác nhau nhưng phải thừa nhận rằng, Yêu đã thành công trong việc Việt hóa một bộ phim điện ảnh ăn khách của Thái Lan và cũng không hề “đuối” so với phiên bản gốc.

Ngoài Em là bà nội của anh, Yêu, một số bộ phim khác của Việt Nam không phải là phim Việt hóa nhưng được coi là “phim ăn theo” phim nước ngoài như Bộ ba rắc rối (đạo diễn Võ Tấn Bình, sản xuất năm 2015) bị gắn mác ăn theo phim The Hangover của Hollywood; Giao lộ định mệnh (đạo diễn Victor Vũ, sản xuất năm 2010), bị gắn mác đạo kịch bản phim Shattered; Tèo em (đạo diễn Charlie Nguyễn, sản xuất năm 2013), bị gắn mác đạo kịch bản phim Due Date... Điều đáng quan tâm là, những bộ “phim ăn theo” luôn tạo được “cơn sốt” khi ra rạp. Điển hình như bộ phim Tèo em đã đạt đến doanh thu đáng mơ ước là 80 tỷ đồng, phá vỡ mọi kỷ lục phòng vé thời bấy giờ. Có lẽ, sự thành công của những bộ phim này, trước hết, là do có được kịch bản phim hay, bất ngờ và là món ăn mới lạ đối với khán giả Việt.

Phim hay, cốt lõi phải có kịch bản hay

Điện ảnh Việt tăng trưởng mạnh với số lượng phim ra rạp không ngừng tăng lên qua mỗi năm. Theo thống kê của các cơ quan chức năng, năm 2015 có hơn 40 phim ra rạp và trong năm 2016, sẽ có hơn 50 phim được hoàn tất hoặc khởi động, (tính trung bình mỗi tuần sẽ có một phim mới ra rạp). Đây là tín hiệu rất đáng mừng cho bộ môn nghệ thuật thứ bảy ở Việt Nam. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, sự gia tăng số lượng phim không tỷ lệ thuận với chất lượng phim. Số lượng phim bị gắn mác “nhảm”, câu khách rẻ tiền thời gian qua chiếm số lượng không nhỏ. Để phát triển điện ảnh Việt cần giải pháp đồng bộ từ nhiều phía nhưng trước hết phải có đội ngũ biên kịch chắc tay, có khả năng “sản xuất” kịch bản phim hấp dẫn.

Một cảnh trong phim “Yêu”, bộ phim được Việt hóa từ phim “The love of Siam” của Thái Lan.

Một trong những thách thức lớn nhất của điện ảnh Việt Nam hôm nay là thiếu kịch bản hay. Có kịch bản phim hay coi như nhà sản xuất phim đã chắc thắng 50%. Đánh giá một cách khách quan, kịch bản điện ảnh Việt chưa phong phú về đề tài, nghèo nàn, hời hợt về ý tưởng. Mảng đề tài được các nhà làm phim khai thác nhiều nhất vẫn là những vấn đề “nóng”, thời thượng của giới trẻ như vấn đề tình yêu, giới tính, góc tối trong showbiz, chân dài - đại gia... Nói về tình trạng khan hiếm kịch bản phim hay, bà Nguyễn Thị Trúc Mai, Giám đốc sản xuất Hãng M.T. Pictures đã có phát biểu “gây sốc” là, bà từng đề nghị với anh, chị em biên kịch, những người thường xuyên viết, gửi kịch bản và có kịch bản được M.T. Pictures lựa để làm phim là, “các bạn hãy làm ơn nghỉ ngơi, đi chơi, 1-2, thậm chí 3-4 tháng. Đi và tĩnh tâm, lắng nghe và quan sát để có thể nghĩ ra những cái mới (...). Tần suất kịch bản được dựng phim nhiều, ắt có sự lặp lại”.

Việt hóa phim nước ngoài đã mang đến làn gió mới cho điện ảnh Việt. Lợi thế của phim Việt hóa là kịch bản phim hấp dẫn với nhiều tình tiết lôi cuốn, đã được khán giả ở nhiều quốc gia “thẩm định”. Thông thường, những kịch bản phim được chọn Việt hóa đã từng “làm mưa, làm gió” ở nước sở tại, được công chúng đón nhận. Đây vừa là lợi thế nhưng đồng thời cũng là thách thức không nhỏ cho các nhà làm phim. “Cái bóng” quá lớn từ sự thành công của bộ phim phiên bản gốc là “đỉnh cao” mà các nhà làm phim đi sau không dễ vượt qua (ví dụ, bộ phim “Miss Granny” từng thu hút gần 9 triệu lượt khán giả Hàn Quốc và có phiên bản ở nhiều quốc gia như Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, Ấn Độ). Với khán giả, khi xem phiên bản mới của một tác phẩm có tiếng, luôn xuất hiện tâm lý so sánh, soi xét kỹ lưỡng. Bên cạnh đó, mỗi tác phẩm Việt hóa cũng là sự “sáng tạo lại” với tư cách một tác phẩm độc lập chứ không đơn thuần là sự dựng lại, sao chép lại cứng nhắc, máy móc. Lựa chọn “điểm nhấn” cho tác phẩm, đưa vào phim những chi tiết thuần Việt để khán giả Việt cảm thấy gần gũi, chân thật là việc làm hết sức cần thiết đòi hỏi tư duy thẩm mỹ và sự nhạy cảm nghề nghiệp của đạo diễn.

Khi nói về thành công của một số bộ phim Việt hóa thời gian gần đây, đạo diễn Đặng Nhật Minh cho biết, “thành công có phần quyết định không nhỏ từ kịch bản quá hay, câu chuyện cuốn hút, nhân vật được khắc họa tính cách rõ nét, tình huống logic, thú vị. Đó là điểm mạnh ở những kịch bản ở nước ngoài, cũng là điểm yếu của kịch bản trong nước”. Thiết nghĩ, Việt hóa phim nước ngoài cũng nên được coi là một phương diện để chúng ta học tập cách làm phim của nước ngoài, nhất là cách viết kịch bản phim. Làm sao để có kịch bản phim hay, cách phát triển ý tưởng mới lạ thành câu chuyện hấp dẫn, cách đưa vào tình tiết gây bất ngờ, hài hước, xúc động cho người xem...

Doanh thu cao, tiết kiệm thời gian, khắc phục được tình trạng khan hiếm kịch bản hay, trào lưu phim “làm lại - remake” ở Việt Nam được dự đoán sẽ phát triển rầm rộ hơn trong thời gian tới đây. Tuy nhiên, đó chỉ là trào lưu nhất thời, không thể là hướng đi chính để phát triển điện ảnh Việt. Điện ảnh Việt cần có những bộ phim hay thuần Việt và điều này không thể trông chờ vào những kịch bản phim của nước ngoài.

Tường Phạm

Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐỌC NHIỀU NHẤT