Người phụ nữ 60 năm gắn bó với nghiệp điều dưỡng

Suckhoedoisong.vn - Chớm thu, gió nhẹ, trời mát, trong căn biệt thự cổ trên phố của trung tâm Thủ đô Hà Nội, chúng tôi ngồi trò chuyện với bà hay nói đúng hơn là ngồi nghe bà kể chuyện về chính cuộc đời bà...

Chớm thu, gió nhẹ, trời mát, trong căn biệt thự cổ trên phố của trung tâm Thủ đô Hà Nội, chúng tôi ngồi trò chuyện với bà hay nói đúng hơn là ngồi nghe bà kể chuyện về chính cuộc đời bà - một người vợ, người mẹ mà tên tuổi của bà đã gắn liền với hai cây đại thụ của nền ngoại khoa Việt Nam là cố GS. Tôn Thất Tùng và cố PGS. Tôn Thất Bách, cũng như công việc mà vô tình số phận đã “se duyên” cho bà gắn bó suốt 60 năm cuộc đời - nghề điều dưỡng. Thế nhưng câu chuyện của người phụ nữ hiền hậu, đẹp mặn mà và quý phái dù đã bước vào tuổi gần 90 trước mắt tôi say mê, hào hứng kể về nghề điều dưỡng bao nhiêu thì lại chùng xuống khi nói về những kỷ niệm của năm tháng GS. Tùng, PGS. Bách chưa đi vào hư không...

“Nghề điều dưỡng đã chọn tôi”

Cô gái Vi Thị Nguyệt Hồ của nhiều năm trước được sinh ra trong một gia đình dòng dõi quí tộc và được gia đình tạo điều kiện học hành đầy đủ, thông thạo tiếng Pháp và tiếng Anh. Nhưng rồi, “tiếng sét trái tim” với BS. Tôn Thất Tùng đã khiến cô gái 16 trăng tròn Vi Thị Nguyệt Hồ kết hôn, dù cô kém chồng 17 tuổi.

Bà Vi Thị Nguyệt Hồ. Ảnh Ngọc Thắng

Sau khi kết hôn, người vợ trẻ ở nhà nội trợ, còn GS.VS. Tôn Thất Tùng khi đó là bác sĩ của nhà thương Làm phúc (Bệnh viện Việt Đức ngày nay) ở phố Phủ Doãn. Khi cách mạng về mang theo thông điệp phụ nữ bình quyền, phu nhân của BS. Tùng đã quyết định hưởng ứng bằng cách tham gia đội Hồng thập tự.

“Là đội viên Hồng thập tự, nay gọi là Hội Chữ thập đỏ, hằng ngày chúng tôi đến nhà thương Làm phúc để chăm sóc những người ốm đau. Được các chị y tá bày cách chăm người bệnh, theo dõi sức khỏe, động viên họ, dần dần tôi biết làm việc của y tá như: thay băng, chăm sóc vết thương”, bà nhớ lại.

Quãng những năm 1948 - 1949, gia đình  bà Vi Thị Nguyệt Hồ theo cách mạng lên chiến khu ở Chiêm Hóa, Tuyên Quang để cấp cứu, điều trị và chăm sóc cho hàng vạn thương bệnh binh. Năm 1954 Giải phóng Thủ đô, ông bà trở về Hà Nội. Ban đầu, bà Nguyệt Hồ tình nguyện vào làm việc cùng các đồng nghiệp của chồng, sau đó bà tham gia lớp học y tá sơ cấp chính quy tại ĐH Y Hà Nội rồi làm việc chính thức trong Bệnh viện Việt Đức, trở thành người y sĩ làm công việc gây mê và dụng cụ viên phòng mổ tài năng, góp phần thành công cho các ca mổ khó của GS.VS. Tôn Thất Tùng.

“Đấy, duyên phận cho tôi gặp anh Tùng, nhưng cũng chính duyên phận gắn bó tôi với nghề điều dưỡng. Mà có lẽ nghề này đã chọn tôi, đã “ngấm” vào tôi ngay từ khi còn là cô nữ sinh trường Pháp đang tuổi ăn, tuổi học vì thế mà tôi đã tình nguyện tham gia đội “Hồng thập tự” từ rất sớm, rồi cứ thế tôi gắn bó với nghề - với nghiệp chăm sóc người bệnh đến 40 năm liền”- bà Hồ kể lại.

Không để mình là “cái bóng” của hai bậc thầy về ngoại khoa

Bệnh viện Việt Đức của những năm đầu sau Giải phóng Thủ đô thiếu thốn đủ thứ, “vá găng, mài kim khâu vết mổ” là chuyện thường tình nhưng bà Nguyệt Hồ luôn quán xuyến, chuẩn bị dụng cụ phẫu thuật chu đáo hoàn hảo nhất cho cuộc mổ. Mỗi ca mổ nặng như cắt gan - mổ tim... mổ cấp cứu thời đó rất nhiều nên cần phải dự trù số lượng máu cần cho ca mổ, bà Nguyệt Hồ luôn quan tâm tới điều này, vì không đủ máu đồng nghĩa với ca mổ phải hoãn lại hoặc người bệnh có thể tử vong. Do đó, bà thường xuyên xuống tận ngân hàng máu của bệnh viện làm việc cụ thể, vận động người cho máu và khi cần cấp cứu bà đã nhiều lần cho máu của mình để cứu người bệnh...

Bà Hồ nhớ lại: Thời đó khó khăn là thế nhưng tôi vẫn duy trì những nguyên tắc vệ sinh vô trùng phòng mổ như: vệ sinh phòng mổ hàng ngày, đầu giờ sáng, giữa hai ca mổ và cuối ngày bà đều lau chùi máy móc, tủ, bàn mổ và sàn nhà cũng như không bao giờ quên tổng vệ sinh định kỳ hàng tuần, hàng tháng, vì nguyên tắc bất di bất dịch của GS. Tôn Thất Tùng trong thực hiện mỗi ca mổ là phải đảm bảo vệ sinh sạch sẽ vô trùng trong phòng mổ. Thầy Tùng cũng chỉ yên tâm khi mọi việc đã được y tá Nguyệt Hồ “tổng duyệt”. Hiểu rất rõ công việc của phẫu thuật viên, đặc biệt các ca mổ lớn như: mổ tim, cắt gan khô, điều dưỡng Nguyệt Hồ luôn chuẩn bị rất chu đáo vật dụng dự phòng cho các tình huống khó có thể xảy ra để phẫu thuật viên nhanh chóng có dụng cụ xử trí.

“Trong phòng mổ, thầy Tùng khó tính lắm, ai sai sót sẽ bị ông mắng. Nhưng bù lại, ai làm tốt thế nào cũng được thưởng hộp sữa đặc, lúc đó là món bồi dưỡng quý lắm. Còn ở nhà, hầu như sáng sáng ông đều tự tay pha cà phê đem đến tận nơi cho vợ”, bà Nguyệt Hồ hạnh phúc khi nhớ về những năm tháng là người bạn nghề, bạn đời với cố GS.VS. Tôn Thất Tùng.

Là con nhà quan, học trường Pháp từ nhỏ nên tiếng Pháp với bà Nguyệt Hồ ngày đó là tiếng phổ thông. Tiếng Anh cũng được bà tự học và sử dụng khá nhuần nhuyễn. Mỗi khi có chuyên gia nước ngoài tới thăm và làm việc, bà rất tự tin trò chuyện, giao tiếp lưu loát, trao đổi công việc. Nhờ nỗ lực không ngừng của bản thân, không chỉ phụ giúp chồng rất hiệu quả những ca mổ tim, cắt gan vô cùng khó khăn trong điều kiện thiếu thốn mà sau này khi thiết bị phòng mổ hiện đại hơn bà vẫn tiếp nhận, tham gia phụ mổ cho con trai là PGS.TS. Tôn Thất Bách.

Mỗi lần bà cùng chồng đi công tác ở nước ngoài hay tham dự hội thảo, ngoài các vấn đề lớn trao đổi về khoa học, bà không quên chia sẻ những khó khăn của Việt Nam như những thiếu thốn từ xà phòng rửa tay đến kim luồn và dây truyền, găng tay... vậy là các bạn đồng cảm và ngay lập tức trước cửa phòng mổ, phòng hồi sức các bệnh viện mà bà có cơ hội trao đổi bên nước bạn đều có thùng giấy to với dòng chữ: “From Việt Nam - GS. Tôn Thất Tùng”, mọi thứ không dùng đến họ đều bỏ vào thùng này và gửi về Việt Nam cho GS. Tôn Thất Tùng ở Bệnh viện Việt Đức Hà Nội.

Là vợ, là mẹ của hai bậc thầy trong chuyên ngành ngoại khoa của nền y học Việt Nam, được giới y học thế giới đánh giá cao và ngưỡng mộ, song bà Vi Thị Nguyệt Hồ luôn tự khẳng định mình bằng chính những công việc mà bà lựa chọn, để người ta nhớ về bà, là một Vi Thị Nguyệt Hồ chứ không chỉ là vợ của GS.VS. Tôn Thất Tùng, hay mẹ của PGS. Tôn Thất Bách. Đặc biệt, thời gian gắn bó với Bệnh viện Việt Đức là một quãng thời gian đáng nhớ trong cuộc đời bà. Là vợ của một giáo sư đầu ngành, bà rất được trọng vọng. Nhưng bà vẫn có cuộc sống độc lập của riêng mình, không dựa dẫm, núp dưới cái bóng quá lớn của chồng. Ngày nắng cũng như ngày mưa, bà đến bệnh viện làm việc bằng chiếc xe đạp cũ. Dù ông lúc nào cũng có xe đón xe đưa, bà Hồ chỉ đi xe cùng ông trong những dịp họ mời cả hai vợ chồng đi họp...

Bà Vi Thị Nguyệt Hồ ngày còn làm việc tại BV Việt Đức. Ảnh Ngọc Thắng

“Con trai tôi luôn tự hào giới thiệu: Mẹ tôi là điều dưỡng”

Theo bà Nguyệt Hồ, y tá (giờ đã được đổi là điều dưỡng) thường đảm đương những công việc khá vất vả nhưng thầm lặng lắm. Chúng tôi luôn cố gắng chăm sóc người bệnh tốt nhất, rồi mừng với người bệnh khi khỏe mạnh về nhà. Xã hội có tiến đến đâu thì con người vẫn cần sự yêu thương. Trong cuộc sống đời thường sự phân chia giàu nghèo, giai cấp là rõ ràng, nhưng chỉ khi bị ốm đau người ta mới hiểu rằng con người ta đều như nhau vì không ai có thể chọn: tôi chọn bệnh này - tôi không muốn bệnh kia và vì thế họ càng cần những người  có tầm lòng bao dung, độ lượng tất cả vì người bệnh. Không chỉ trong phòng mổ mà còn cả quãng thời gian chăm bệnh nhân hậu phẫu cũng phải rất sát sao.

“Khi còn làm việc, trước khi ra về, thế nào chúng tôi cũng đảo lại thăm bệnh nhân, sớm mai đến cũng qua thăm họ trước khi giao ban để còn nắm tình hình người bệnh. Điều dưỡng ví như cái báo động, khi bệnh nhân có biến đổi gì nặng phải nhận biết được để báo nhanh với bác sĩ. Mà bản thân cũng phải biết xử trí, biết sơ cứu đầu tiên để giúp bệnh nhân không lâm vào nguy kịch”- bà Vi Thị Nguyệt Hồ nhớ lại.

Cho đến nay bà đã trải qua 60 năm gắn bó với nghề điều dưỡng, trong đó 40 năm công tác tại Bệnh viện Việt Đức, 20 năm là Chủ tịch Hội Điều dưỡng Việt Nam.

Hơn 40 năm gắn bó với phòng  mổ Bệnh viện Việt Đức, bà Nguyệt Hồ đã có nhiều đóng góp duy trì các chuẩn mực thực hành trong phòng mổ. Bà cũng là tấm gương mẫu mực về y đức, sự thương yêu và tận tụy phục vụ người bệnh. Trong quá trình công tác, bà đã đào tạo nhiều thế hệ điều dưỡng và sinh viên y thực tập tại các phòng mổ.

Trong suốt 20 năm qua, với cương vị là Chủ tịch Hội Điều dưỡng Việt Nam, bà Vi Thị Nguyệt Hồ đã cống hiến toàn bộ sức lực của mình cho sự phát triển của nghề điều dưỡng, là niềm tự hào của điều dưỡng cả nước, là tấm gương mẫu mực về say mê nghề nghiệp, là ngọn cờ đoàn kết và tập hợp hội viên cả nước. Bà đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến  hạng III, được phong tặng danh hiệu Thầy thuốc ưu tú, bà được nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ và nhiều bằng khen, giấy khen của các cấp.

Tôi cũng như nhiều anh chị em ngồi bên bà buổi sáng chớm thu hôm đó đã đặt câu hỏi “sao ngày đó, bà không đi học bác sĩ?”. Hồn hậu cười, bà bảo với chúng tôi: Chồng tôi là bác sĩ rất có trách nhiệm với bệnh nhân và với gia đình. Nếu như tôi làm tốt công tác hậu cần chăm sóc con cái, gia đình và tổ chức tốt công việc trong phòng mổ giúp cho chồng tôi và con trai tôi sau này, để họ hoàn thành nhiệm vụ cứu chữa cho bệnh nhân thì đó chẳng phải là hạnh phúc hay sao?  Con trai tôi, cậu Bách ấy luôn luôn tự hào mỗi lần giới thiệu với bạn bè, đồng nghiệp trong nước và quốc tế “Mẹ tôi là điều dưỡng”, vậy tại sao tôi cần phải học bác sĩ? Ánh mắt bà đượm buồn khi dừng câu nói và nhìn về di ảnh cậu con trai yêu PGS. Tôn Thất Bách đã lặng lẽ vào cõi thiên thu từ năm 2004...

Thái Bình

Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐỌC NHIỀU NHẤT