GS.TS. Nguyễn Thanh Liêm:

Người giữ gìn tâm đức

Suckhoedoisong.vn - Tôi gặp giáo sư trong một buổi sáng cuối đông nắng vàng rực rỡ. Vẫn khuôn mặt nhân hậu và đôi mắt sáng, ấm áp...

Tôi gặp giáo sư trong một buổi sáng cuối đông nắng vàng rực rỡ. Vẫn khuôn mặt nhân hậu và đôi mắt sáng, ấm áp, ông kể cho tôi nghe về chuyến đi của mình khi một đất nước Tây phương mời ông sang trình diễn kỹ thuật mổ của Việt Nam cho 2 bệnh nhân không hậu môn tại Italia. Với ông, mỗi thành công trong y học là hàng ngàn bệnh nhân có được hy vọng sống, hy vọng hồi sinh... và đôi mắt ấm áp của ông như thắp lên bao niềm hy vọng ấy, đẹp như một buổi sáng đầu đông đầy nắng. Ông là GS.TS. Nguyễn Thanh Liêm - nguyên Giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương, Giám đốc Bệnh viện đa khoa Quốc tế Vinmec, Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới, người thầy thuốc mang trái tim ấm áp sưởi ấm bệnh nhân nghèo.

GS. TS. Nguyễn Thanh Liêm.

Tâm

Người ta hay nhắc đến ông bằng sự kính trọng của một nhà khoa học tài ba, là chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực ngoại nhi của Việt Nam và thế giới. Ông là người tiên phong nghiên cứu và ứng dụng thành công nhiều phương pháp phẫu thuật mới.  Ông đã tiến hành phẫu thuật thành công 5 cặp song sinh có chung nhiều bộ phận của cơ thể, là người tiến hành các ca ghép gan, ghép thận trẻ em đầu tiên ở các bệnh viện nhi của Việt Nam. Ông đã tiến hành phẫu thuật nội soi ở trẻ em từ năm 1997 và đã đưa phẫu thuật nội soi trẻ em Việt Nam phát triển ngang tầm với các trung tâm tiên tiến nhất trên thế giới. Ông đã đóng góp 8 kỹ thuật mổ nội soi mới cho chuyên ngành phẫu thuật nhi thế giới như: phẫu thuật teo trực tràng bằng nội soi ổ bụng kết hợp với đường qua hậu môn; phẫu thuật điều trị dị tật còn ổ nhớp bằng phẫu thuật nội soi ổ bụng và tạo hình âm đạo, niệu đạo bằng đường tầng sinh môn; phẫu thuật teo hậu môn rò trực tràng - niệu đạo bằng nội soi ổ bụng kết hợp với đường sau trực tràng giữ nguyên cơ thắt ngoài; phẫu thuật cắt màng tim rộng rãi bằng nội soi lồng ngực điều trị viêm mủ màng ngoài tim; phẫu thuật nội soi lồng ngực điều trị thoát vị cơ hoành ở trẻ sơ sinh đang thở máy cao tần; phẫu thuật nối niệu quản - niệu quản bằng nội soi sử dụng 1 trocar điều trị dị tật niệu quản đôi; phẫu thuật cắt thận bằng nội soi sử dụng 1 trocar; phẫu thuật nội soi sử dụng 1 trocar làm hậu môn nhân tạo.

Nhưng với tôi, tôi ấn tượng với ông không chỉ bằng cốt cách và sự chuẩn mực của một nhà khoa học chân chính mà còn là một thầy thuốc thiện tâm. Một người thầy thuốc không vì danh vọng, lợi lộc, không vì những giá trị vật chất chi phối, sẵn sàng mang trí tuệ và sức lực của mình ra giúp đỡ người nghèo với những căn bệnh quái ác.

Người ta cứ nghĩ rằng, được một người như giáo sư  trực tiếp cầm dao mổ quả là một điều không tưởng, như giấc mơ trong câu chuyện cổ tích vậy. Nhưng thực ra không phải thế, khi đọc được những dòng tin nhắn của học trò, đồng nghiệp về một số phận nào đó không may mắn, ông sẵn sàng bố trí thời gian để thăm khám và phẫu thuật cho họ. Những trường hợp gia cảnh khó khăn, Giáo sư cũng sẽ giúp đỡ toàn bộ chi phí phẫu thuật và điều trị, ông làm việc bằng cái “tâm” của người thầy thuốc và tấm lòng trân trọng người bệnh, trân trọng từng ca mổ của một nhà khoa học.

Ông kể cho tôi nghe về ca mổ của bệnh nhân 21 tuổi bị dị tật không hậu môn đã 21 năm. Vì gia đình khó khăn mà trong suốt thời gian qua, chàng thanh niên này đã phải đeo hậu môn nhân tạo trên bụng. Ca mổ kéo dài trong khoảng 4 giờ đồng hồ (bình thường chỉ mất 1 giờ đối với trẻ sơ sinh 3 tháng tuổi) đã giúp chàng trai tạo hình được hậu môn nhân tạo. Hay trường hợp của cậu bé Lê Trung Tuấn (sinh năm 1998 tại Thanh Hóa) được mệnh danh là “cậu bé không có khuôn mặt người”. Cậu phải mang một khối u ác tính chiếm gần như toàn bộ gương mặt, đẩy hai mắt về hai phía, vùng miệng và mũi bị lệch, hiện đã phá hủy một phần xương sọ, xoang trán, ăn sâu vào nền sọ,  chèn ép vào thần kinh thị giác và ảnh hưởng đến tuyến yên, đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng, cần phải được mổ gấp. Ca mổ kéo dài gần 9 giờ đồng hồ, căng thẳng và đầy áp lực. Thách thức lớn nhất của ca mổ là khối u ác tính đã ăn rất sâu vào hộp sọ nên việc tách u ra đòi hỏi kỹ thuật cao và phức tạp. Ông cùng với BS. McKay McKinnon và các đồng nghiệp tại Bệnh viện đa khoa Quốc tế Vinmec đã rất nỗ lực để tách bỏ khối u mà không làm ảnh hưởng đến cấu trúc các bộ phận khác như mắt, sọ não... Đây là một ca mổ rất phức tạp. Cả ê-kíp phải làm việc vô cùng căng thẳng vì máu chảy liên tục và quá nhiều, trong 9 giờ phẫu thuật, ca mổ đã phải sử dụng tới 7 lít máu, 5 lít hồng cầu và 2 lít huyết tương tươi truyền vào cơ thể bệnh nhân. Rất nhiều lần, các bác sĩ phải dừng cuộc mổ để kíp gây mê hồi sức tiến hành hồi sức vì huyết áp tụt thấp, nguy hiểm tới tính mạng bệnh nhân. Rất may, ca phẫu thuật đã thành công.

Những câu chuyện đó cứ nhẹ nhàng kể, như hư, như không như đó là việc ông cần thiết phải làm vậy, không nề hà hay e ngại. Tôi có cảm giác như mỗi một ca mổ thành công là một lần ông chinh phục được chính bản thân mình. Ông thường thích đối diện với những thử thách, những thử thách càng khó càng thôi thúc ông tìm tòi, nghiên cứu và khám phá để mang lại những điều tốt đẹp nhất cho người bệnh, đó phải chăng là niềm tin, là lẽ sống hay chỉ đơn giản là sự nhân từ toát ra từ con người, đôi mắt ông. Đôi mắt ấy luôn đong đầy cảm xúc và ấm áp kỳ lạ. Mặc dù ông không muốn nhắc đến nhưng tôi biết, từ khi về Vinmec, trong 2 năm qua Vinmec đã dành gần 57 tỷ đồng để khám chữa bệnh miễn phí cho bệnh nhân nghèo. Chỉ tính riêng năm 2013, hơn 2.000 bệnh nhân nghèo với các bệnh hiểm nghèo phức tạp đã được phẫu thuật, khám và điều trị miễn phí với tiêu chuẩn phục vụ cao nhất: mỗi bệnh nhân 1 giường bệnh, ăn ở và điều trị miễn phí theo tiêu chuẩn khách sạn 5 sao... Tất cả những việc làm đó, nếu không xuất phát từ một sự thiện tâm, không vụ lợi thì sẽ không thể nào làm được. Ông, người đứng mũi chịu sào, người từng chèo lái con thuyền vững chãi từ Nhi Trung ương sang Vinmec thì vẫn luôn cười hiền như đó là một sự hiển nhiên “người có bệnh thì phải được chữa bệnh” vậy.

GS.TS. Nguyễn Thanh Liêm và đồng nghiệp quốc tế trong một ca phẫu thuật.

Đức

Xã hội bây giờ hay lắm, khi bất kỳ một tai biến y khoa nào xảy ra, người ta liền gán vào cho “y đức” của thầy thuốc và coi y đức như một giải pháp tích cực để nâng cao chất lượng dịch vụ y tế. Ông cười buồn và chia sẻ với tôi như vậy.

Lúc này đây, hình ảnh của ông lại khác, một nhà khoa học quyết đoán và thẳng thắn. Trước bài toán “nâng cao chất lượng dịch vụ y tế” và vấn đề “y đức” của người thầy thuốc, ông cho rằng: “Giáo dục y đức có thể cần nhưng chưa đủ vì ở các nước Âu, Mỹ người ta không hô hào y đức nhưng chất lượng dịch vụ y tế vẫn tốt, người bệnh vẫn hài lòng. Còn ở ta, bao nhiêu năm vẫn hô hào nâng cao y đức nhưng y đức vẫn xuống cấp, chất lượng dịch vụ y tế vẫn thấp”.

Muốn có một dịch vụ y tế chất lượng cao cần có một cách nhìn mới, một phương pháp tiếp cận mới và thực hiện tốt một số giải pháp như sau:

Thay đổi phân tuyến bệnh viện, cách tổ chức hệ thống bệnh viện theo kiểu tập trung như hiện nay. Cách tổ chức bệnh viện của ta hầu như chỉ có ở Việt Nam. Ở châu Âu, Hoa Kỳ và các nước phát triển không có bệnh viện tuyến Trung ương, không có hiện tượng các ca bệnh khó, phức tạp chỉ Thủ đô mới giải quyết được. Các bệnh viện ở thành phố lớn nói chung có trình độ chuyên môn, trang thiết bị, cơ sở vật chất tương đương nhau. Mỗi bệnh viện gắn liền với một trường đại học y. Mỗi bệnh viện có thế mạnh riêng về một chuyên khoa nào đó. Bệnh viện ở các thành phố thậm chí còn có trình độ tốt hơn bệnh viện ở Thủ đô. Nếu Việt Nam làm được như vậy, chắc chắn bệnh nhân sẽ không dồn về Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.

Muốn vậy, phải tập trung mở rộng quy mô giường bệnh, tăng cường trang thiết bị, đặc biệt đào tạo nâng cao trình độ cho các thầy thuốc bệnh viện tuyến tỉnh. Ngoài ra, cần thành lập một số bệnh viện mới hoặc nâng cấp một số bệnh viện tỉnh thành bệnh viện cấp vùng có trình độ tương đương với các bệnh viện Trung ương ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.

Chúng ta cần phải thay đổi mô hình đào tạo bác sĩ từ mô hình theo kiểu cắt khúc như hiện nay sang mô hình đào tạo liên tục như hầu hết các nước đang làm. Cụ thể là sau khi học xong 6 năm, bác sĩ cần phải theo học tiếp các chương trình chuyên khoa cấp I hoặc nội trú bệnh viện 3 năm, sau đó thi để lấy chứng chỉ hành nghề. Học sau 6 năm mới chỉ là đại cương, bác sĩ chưa thể hành nghề độc lập, về công tác tại bệnh viện tuyến huyện, tỉnh nếu không có thầy hướng dẫn chuyên môn không những không được nâng cao mà còn “cùn” dần đi. 3 - 4 năm sau mới đi học nâng cao, kết quả học tập sẽ bị hạn chế bởi khi đó bác sĩ sẽ bị phân tâm bởi cuộc sống riêng như gia đình, vợ con, mưu sinh... Nhà nước cần cấp học bổng cho các bác sĩ học sau đại học như các nước vẫn đang làm.

Giáo dục truyền thông để thay đổi nhận thức của cộng đồng và cán bộ y tế về ngành y. Đừng thần thánh hóa cán bộ y tế. Hãy coi ngành y là một ngành cung cấp dịch vụ sức khỏe, cán bộ y tế phải cung cấp dịch vụ có chất lượng tốt. Người bệnh mua dịch vụ thông qua việc trả lương nuôi cán bộ y tế và chi trả trực tiếp thông qua viện phí. Bệnh nhân là khách hàng và khách hàng luôn đòi hỏi nhận được dịch vụ tương xứng với đồng tiền bỏ ra.

Tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh bằng việc xây dựng cơ chế chính sách thông thoáng cho hệ thống y tế tư nhân phát triển. Cần loại bỏ tư tưởng phân biệt công tư, đối xử không công bằng với hệ thống y tế tư nhân. Cũng như nhiều dịch vụ khác, khi không còn độc quyền thì chất lượng dịch vụ sẽ tốt hơn và khách hàng sẽ được hưởng lợi nhiều hơn.  

Vân Lam

 

 

Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Người giữ gìn tâm đức

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐỌC NHIỀU NHẤT