Người duy nhất có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên mà suốt đời không được phong thưởng

Suckhoedoisong.vn - Người đó là Phó đô tướng quân Trần Khánh Dư, mà chiến công lớn nhất của ông là đánh chìm đoàn thuyền lương của tên cướp biển Vạn Hộ Hầu Trương Văn Hổ trên vịnh biển Bái Tử Long hiện nay

Người đó là Phó đô tướng quân Trần Khánh Dư, mà chiến công lớn nhất của ông là đánh chìm đoàn thuyền lương của tên cướp biển Vạn Hộ Hầu Trương Văn Hổ trên vịnh biển Bái Tử Long hiện nay, góp công rất quan trọng vào chiến thắng Bạch Ðằng 1288. Có lẽ vì thế chăng mà nhà sử học lớn Phan Huy Chú xếp ông ở hàng thứ tư, chỉ sau Trần Hưng Ðạo, Trần Nhật Duật và Phạm Ngũ Lão, đứng trên các tướng tài kiệt như Trần Quang Khải, Trần Bình Trọng, Trần Quốc Toản, Nguyễn Khoái, Trần Quốc Nghiễn, Trần Quốc Tảng...

Nhưng ông là người duy nhất không được phong thưởng năm 1289 và sau đó - suốt cả cuộc đời.

Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần 2 và lần 3, rõ nhất là lần 3, bố phòng của quân đội nhà Trần, có thể hình dung được như sau (như một tài liệu tôi đã đọc): Phía Nam giao cho Trần Quang Khải - sử gia giặc gọi là Thái soái, đóng đại bản doanh ở Thanh Hóa; Phía Tây Bắc giao cho Trần Nhật Duật, đóng đại bản doanh ở Yên Bái (điều rất đáng chú ý là Quân khu 2 của ta hiện nay, bảo vệ Thủ đô Hà Nội cũng đóng đại bản doanh ở Yên Bái). Phía Đông Bắc bao gồm cả trên biển và trên bộ, nhất là vùng biên thùy (theo Đại Việt sử kí toàn thư - ĐVSKTT - như đã dẫn ở phần trên) giao cho Trần Khánh Dư, đóng đại bản doanh ở Vân Đồn, vì thế mà các sử gia gọi ông là Vân Đồn phó tướng, chứ tên chức của ông là Phó đô tướng quân. Còn mặt trận trung tâm, đối đầu với đạo quân mạnh nhất là kị binh giặc Nguyên Mông thường đánh thẳng từ Lạng Sơn vào kinh thành Thăng Long, Trần Hưng Đạo tự đảm nhận, cùng anh trai là Trần Tung, con rể là Phạm Ngũ Lão (đóng quân phòng thủ ở phía Nam ải Chi Lăng. Ngũ Lão lấy con gái nuôi, còn 2 con gái đẻ đều lấy vua Trần Nhân Tông) và 4 con trai: Trần Quốc Nghiễn, Trần Quốc Hiện, Trần Quốc Tảng, Trần Quốc Uất, đóng đại bản doanh ở Vạn Kiếp và các vùng lân cận thuộc Hải Dương, Bắc Ninh và Bắc Giang hiện nay (không có tài liệu lịch sử nào ghi là ở Quảng Ninh hiện nay). Như vậy, ta có thể suy ra, cương vị của ông tương đương như các Đô nguyên soái, dưới Trần Hưng Đạo 1 cấp, nhưng chức vẫn chỉ là Phó đô tướng quân, dưới Trần Hưng Đạo 4 cấp.Đền thờ Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư

Đền thờ Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư tại Vân Đồn, Quảng Ninh.

Việc ông không được phong thưởng và lí do vì sao, ngày nay chúng ta chỉ suy ra từ các chuỗi sự kiện trong đời ông, chứ lịch sử chính thức không ghi một dòng nào giải thích cụ thể về việc đó. ĐVSKTT ghi một số việc như sau:

Một, ông thông dâm với công chúa Thiên Thụy, chị ruột vua Trần Nhân Tông, vợ Trần Quốc Nghiễn, con dâu trưởng Trần Hưng Đạo, phải nhận án “đánh chết”. Vua “tiếc tài làm tướng” của ông nên bảo đội thi hành án: “Chớ đánh đau quá để không đến nỗi chết” rồi xuống chiếu, cách hết quan tước, tịch thu sản nghiệp, không để lại cho một tí gì”. Đến khi vua họp vương hầu ở Bình Than, Khánh Dư được vua “xuống chiếu tha tội”. “Vua ban cho áo ngự, vị thứ ngồi ở dưới các vương, trên các công hầu”.

Hai, khi làm Vân Đồn phó tướng,  quân Nguyên “chia đường vào cướp” nước ta. Trên tuyến đường biển, “Khánh Dư đánh nhau với giặc bị thua. Thượng hoàng nghe tin, sai Trung sứ xiềng Khánh Dư đem về kinh đô. Khánh Dư bảo với Trung sứ rằng: “Lấy quân luật mà xử, tôi xin chịu tội, nhưng xin hoãn cho vài ba ngày, để tôi lập công chuộc tội, rồi sẽ chịu búa rìu cũng chưa muộn”. Vì thế, khi Khánh Dư thắng giặc, như đã nói trên, “Thượng hoàng tha tội trước, không hỏi đến”.

Có lẽ lí do không phong thưởng là như vậy chăng?

Còn hai việc khác, ngày nay chúng ta có thể thông cảm được với ông:

Một, khi ông bị dân kiện về tội “tham lam, thô bỉ”, ông về kinh thành chầu vua, nhân đó tâu: “Tướng là chim ưng, dân lính là vịt, dùng vịt để nuôi chim ưng thì có gì là lạ”. Vua rất không hài lòng, Khánh Dư phải về ngay, e ở lại sẽ bị quở phạt. Tôi nghĩ là ông đã nói đúng mối quan hệ giữa người cai trị và người bị trị của mọi thời đại ở mọi quốc gia. Ai cũng nhận ra thế, chỉ có Khánh Dư mới dám nói trước mặt vua mà thôi.

Hai, “để ngăn phòng giặc Hồ, không thể đội nón phương Bắc”, ông “sai người nhà mua nón Ma Lôi từ trước” rồi lúc đó bán, dân “tranh nhau mua”, giá tăng cao dần, thu được nhiều tiền và “hàng ngàn tấm vải”, ĐVSKTT ghi là “tham lam, thô bỉ”, đến nỗi: “Vân Đồn gà chó thảy đều kinh”. Tôi nghĩ khác, có lẽ Trần Khánh Dư là người đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, ý thức được cái mà ngày nay ta gọi là kinh tế thị trường. Còn việc phân biệt người Việt với người Hồ (người phương Bắc - Trung Quốc) bằng việc đội nón khác nhau, tôi nghĩ cũng là cần thiết chứ sao. Tất nhiên, để “quản lí hộ khẩu”, cái nón không giải quyết được vấn đề.

Nhà thơ TRẦN NHUẬN MINH

Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐỌC NHIỀU NHẤT