Nghĩ về quyền được chết

Suckhoedoisong.vn - Quyền được chết hay trợ tử là thuật ngữ tạm dịch từ tiếng Anh “euthanasia”, bắt nguồn từ một từ Hy lạp là “euthanatos”, trong đó eu là tốt, bình thường và thanatos là chết.

Quyền được chết hay trợ tử là thuật ngữ tạm dịch từ tiếng Anh “euthanasia”, bắt nguồn từ một từ Hy lạp là “euthanatos”, trong đó eu là tốt, bình thường và thanatos là chết. Đối với bác sĩ, nếu được pháp luật cho phép họ có quyền trợ tử,  tức gây nên cái chết nhẹ nhàng nhằm giúp cho bệnh nhân không còn đau khổ do mắc một bệnh nan trị. Còn đối với bệnh nhân, nếu được pháp luật cho phép, họ có quyền được chết, tức được trợ tử.

Ai không đau lòng khi chứng kiến người bệnh ở giai đoạn cuối cùng của việc điều trị bệnh nan y, đau đớn cùng cực chỉ mong được chết. Hoặc nhìn thấy người bệnh ở trong tình trạng “vô phương cứu chữa”, sống đời sống thực vật mấy năm trời, đại tiện tiểu tiện tại chỗ, sống nhờ hoàn toàn vào máy trợ hô hấp, tuần hoàn, vào dinh dưỡng nhân tạo, họ không biết gì về việc gây nỗi khổ không thể tả cho người thân và sự ray rứt cho bác sĩ điều trị. Người không thuộc giới chuyên môn khi chứng kiến như thế dù còn gợn suy nghĩ này nọ vẫn thầm mong “hãy chết đi cho đỡ khổ!”. Còn thầy thuốc trực tiếp chăm sóc, luôn ràng buột bởi y đức, cũng có lúc than thầm: ước gì có đủ pháp lý để có thể thực hiện cái chết êm ả gói gọn trong hai chữ “trợ tử”! Thật sự đã có nhiều người bệnh khổ quá bày tỏ bằng lời hoặc bằng cách viết thư gửi đến báo chí như trong thời gian vừa qua: “Xin được chết nhân đạo!”.

 

quyen duoc chet, chet nhan dao

Đã có nhiều người bệnh khổ quá “Xin được chết nhân đạo!”

 

Hai luồng dư luận về trợ tử

Về việc hợp pháp hóa, hiện nay trên thế giới chỉ có 3 nước cho phép thực hiện trợ tử tự nguyện. Đó là Hà Lan (ban hành luật trợ tử năm 2001), Bỉ (ban hành 2002), Luxembourg (ban hành 2008). Riêng nước Mỹ, chỉ có tiểu bang Oregon không hợp pháp hóa trợ tử nhưng cho phép trợ giúp tự tử (assisted suicide), tức người bệnh tự dùng thuốc độc do bác sĩ cung cấp.

Tuy nhiên, trên thế giới, hiện vẫn có 2 luồng dư luận phản đối và ủng hộ trợ tử diễn ra rất mạnh mẽ, nhất là ở các nước phát triển.

Về phía phản đối trợ tử, những người này cho rằng hợp pháp trợ tử có thể đưa đến sự lạm dụng như: trợ tử không tùy ý bệnh nhân mà tùy ý bác sĩ, bác sĩ chẩn đoán nhầm để đưa đến trợ tử. Một lý do mạnh mẽ phản đối trợ tử là uy tín của nền y khoa bị tổn hại. Bởi vì, nhiệm vụ của thầy thuốc được xác định từ lâu là bảo vệ sự sống chứ không phải tiêu diệt sự sinh tồn của con người. Người được cho là chống đối trợ tử đầu tiên trong lịch sử y học là Hippocrates, ông tổ ngành Y phương Tây. Trong lời thề Hippocrates, ông kêu gọi thầy thuốc là người “không bao giờ cho ai một liều thuốc độc, dù người đó yêu cầu và không bao giờ gợi ý về điều đó”. Luật y đức (Code de Déontologie) của Pháp, điều 38 quy định người thầy thuốc không có quyền cố tình gây nên cái chết. Nhưng lý do lớn nhất là ảnh hưởng của tôn giáo thần khải tin rằng sự sống có tính chất thiêng liêng do thượng đế ban cho con người, chỉ có thượng đế mới có quyền lấy đi sự sống. Chính sự tin này làm rất nhiều người kết án trợ tử, xem trợ tử là giết người.

Còn ở nước ta, có người phản đối trợ tử vì cho rằng nó không hợp với tâm lý, truyền thống, đạo lý con người Việt Nam là luôn coi trọng quyền được sống. Có người phản đối trợ tử vì quyền có thể bị lợi dụng nhằm giết người có chủ đích, con cháu cưỡng ép ông bà, cha mẹ ký vào giấy xin trợ tử.

quyen duoc chet

Về phía ủng hộ trợ tử , họ cho rằng hợp pháp hóa trợ tử bằng pháp luật quy định chặt chẽ là việc nên làm, có lợi cho người chết và người thân còn sống. Việc chăm sóc giảm nhẹ sự đau đớn (palliative care) cho người bệnh thuộc loại nan y dù phát triển tốt đẹp đến đâu vẫn không giải phóng người bệnh hoàn toàn khỏi nỗi đau đớn, chỉ có cái chết mới giúp họ không còn đau. Hơn nữa, tình hình kinh tế của người bệnh, của hệ thống y tế khó lòng kham nổi việc điều trị quá kéo dài mà sau cùng người bệnh vẫn chết (do bệnh vô phương cứu chữa). Chính tình trạng vừa kể làm cho, bên cạnh sự phản đối trợ tử, vẫn xảy ra âm thầm, không dám công khai các hành động trợ tử hoặc giúp cho bệnh nhân tự tử. Một số nghiên cứu trên thế giới gần đây cho thấy số tử vong do trợ giúp y khoa tại các nước tiên tiến là khá cao. Hai công trình nghiên cứu đăng trên tạp chí Lancet (2/8/2003) dựa trên 20.000 ca tử vong, tỉ lệ chết do trợ giúp y khoa đi từ 23% (nước Ý) tới 51% (Thụy Sĩ).

Cũng theo phong trào ủng hộ trợ tử, hợp pháp hóa trợ tử nếu được pháp luật quy định chặt chẽ, sẽ không làm tăng những trường hợp “trợ tử” giả hiệu tức giết người bệnh một cách tùy tiện; trái lại có thể phân biệt một cách rõ ràng hai hiện tượng với động cơ hoàn toàn khác nhau này. Trợ tử hợp pháp chính là hành động giúp người bệnh chết một cách nhẹ nhàng, nhằm mục đích làm thuyên giảm khổ đau của người bệnh và cả người thân của người bệnh trong giai đoạn cuối cuộc đời khi mà bệnh đó không thể nào chữa khỏi. Trợ tử nếu được pháp luật bảo vệ trước hết cũng phải xuất phát từ tấm lòng nhân đạo, từ bi cứu khổ của thầy thuốc. Vì thế, nếu không được hợp pháp hóa, trợ tử xuất phát từ lòng nhân từ bằng cách này hay cách khác vẫn được thực hiện một cách âm thầm, kín đáo, không dám công khai.

Sẽ được ghi nhận trong tương lai?

Theo thiển ý của người viết, đối với người bệnh ở giai đoạn cuối đời, chết một cách tự nhiên là tốt nhất. Nhưng trong một số trường hợp, sự kéo dài sự sống chỉ là nỗi khổ đau của người bệnh và gia đình, thì trợ tử của người thầy thuốc với sự thỏa thuận của người bệnh hay gia đình là cần thiết. Điều hết sức quan trọng là người thầy thuốc cần có lòng từ bi và trí tuệ để thực hiện nguyện vọng của người bệnh hay gia đình người bệnh nhằm giải phóng nỗi khổ đau của họ.

Có lòng từ bi tức là có lòng thương người, luôn xem sự sống là thiêng liêng, nếu có làm điều gì xâm phạm đến sự sống thì đó là điều bất khả kháng và làm chỉ vì muốn chấm dứt đau khổ. Còn có trí tuệ là có đủ hiểu biết, kiến thức về chuyên môn, y đức và pháp  luật để giúp người bệnh “gần đất xa trời” với căn bệnh không thể chữa được, thoát khỏi thế giới một cách êm ả, dễ dàng.

Người thầy thuốc rất cần trang bị trí tuệ tập thể. Đó là luật trợ tử nếu quốc gia của người thầy thuốc đã hợp pháp hóa trợ tử. Luật hợp pháp hóa trợ tử được gọi là trí tuệ tập thể vì toàn đất nước được huy động trí lực để xây dựng nên, xác định thế nào là trợ tử hợp pháp. Mặt khác, trí tuệ tập thể còn là tiến bộ y học không ngừng phát triển nhờ phát minh của nhân loại. Tiến bộ y học giúp, vừa càng ngày càng xác định chính xác hơn thời điểm thích hợp giúp tạo “cái chết êm ả” cho người bệnh vô phương cứu chữa vừa kéo dài cuộc sống có chất lượng.

Với lòng từ bi và trí tuệ, người thầy thuốc mới thực hiện được trợ tử, giúp “cái chết cần thiết và nhân đạo” cho người bệnh. Biết rằng, trong điều kiện ở nước ta hiện nay rất khó có được sự đồng thuận đi đến xây dựng luật về quyền được chết nhưng tôi cũng xin mạo muội nêu một số ý kiến của mình. Có thể chúng sẽ đươc ghi nhận trong tương lai.

PGS.TS. NGUYỄN HỮU ĐỨC

Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Nghĩ về quyền được chết

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐỌC NHIỀU NHẤT