Ngắm lại sách giáo khoa

Suckhoedoisong.vn - Nhà thơ Chế Lan Viên có lần nhận xét đại ý rằng, những áng văn hay nhất, sinh động nhất đều ở bên ngoài cánh cổng nhà trường. Chủ đề chính của văn chương trong hệ thống sách giáo khoa chỉ loanh quanh mấy chuyện: đánh nhau, đi tù, đi tu và ở ẩn.

Các tác phẩm được tuyển chọn đưa vào học trong nhà trường phải là tác phẩm mẫu mực ở một mức độ nhất định và về mặt nghệ thuật, nó phải đủ độ để các thầy cô giáo có “một khoảng đất” mà khai thác và các em học sinh có “một khoảng trời” của tưởng tượng, mà bay bổng…( Nhà thơ Trần Đăng Khoa). (Ảnh minh họa)

Các tác phẩm được tuyển chọn đưa vào học trong nhà trường phải là tác phẩm mẫu mực ở một mức độ nhất định và về mặt nghệ thuật, nó phải đủ độ để các thầy cô giáo có “một khoảng đất” mà khai thác và các em học sinh có “một khoảng trời” của tưởng tượng, mà bay bổng…( Nhà thơ Trần Đăng Khoa). (Ảnh minh họa)

Tất nhiên, đó là nội dung sách giáo khoa thời cụ Chế còn sống, hồi thế hệ chúng tôi còn đi học. Chỉ riêng mảng văn chương viết về nhà tù đã dày đặc. Ngoài tác phẩm Nhật ký trong tù của Bác và chùm thơ Xiềng xích của Tố Hữu trong tập Từ ấy, cần phải có trong sách giáo khoa, các phần khác, nên mở ra nhiều hướng khác nữa, nhưng các nhà soạn sách vẫn “giam” thầy và trò trong tù ngục: Đập đá ở Côn Lôn: Tù. Không giam được trí óc: Tù. Bất khuất: Tù. Sống như Anh: Tù. Rồi thơ Xuân Thủy, thơ Hoàng Văn Thụ: “Thân dẫu lao tù không hề nản”. Rồi phần văn học đương đại, tiểu thuyết sử thi Vỡ bờ của nhà văn Nguyễn Đình Thi cũng lại chỉ trích đoạn anh Khắc Trong xà lim. Đến cả hai ông cụ khổng lồ, một ta, một Tây, là cụ Víchto Huygô với kiệt tác Những người khốn khổ, và cụ Nguyễn Du với siêu phẩm Truyện Kiều cũng lại góp thêm hai mảng tù nữa: “Hàn huyên chưa kịp dãi dề/ Sai nha bỗng thấy bốn bề xôn xao/ Người nách thước, kẻ tay đao/ Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi/ Già giang một lão một trai/ Một dây vô lại buộc hai thâm tình… Rồi “Rường cao rút ngược dây oan/ Dẫu là đá cũng nát gan, lọ người/ Mặt trông đau đớn rụng rời/ Oan này còn một kêu trời nhưng xa/ Một ngày lại thói sai nha/ Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền”. Đây là nguyên văn đoạn trích học ở sách giáo khoa, cũng là đoạn chán nhất trong kiệt tác Truyện Kiều. Giữa kho báu “Lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu” của cụ Nguyễn Du, đoạn này chỉ như một bản lề, là cái nguyên cớ dẫn đến 15 năm lưu lạc của cô Kiều tài sắc. Để cứu bố và em thoát khỏi tù ngục, cô Kiều đã phải bán mình lấy mấy lạng bạc đút lót cho bọn quan lại bẩn thỉu. Người soạn sách coi đó là đoạn văn tố cáo xã hội phong kiến rất mạnh mẽ. Nhưng tố cáo một cách đơn giản, còn phía sau con chữ không có gì cả và đấy mới là cái căn cốt của văn chương. Văn chương, đặc biệt là thơ, không chỉ là sự sống mà cái chính là cái hồn vía của sự sống, của tấm lòng. Tôi đồng ý với nhà thơ Trần Nhuận Minh, trong cuốn Đối thoại văn chương, ông có nói rằng: đọc một tác phẩm văn chương nào, ông muốn được làm cái việc rất không văn chương là “thò tay vào mà khoắng” xem trong đó ngón tay có chạm vào gan ruột của tác giả không? Nếu không thì không có gì đáng bàn. Cụ Nguyễn Du nói:  Ngổn ngang trăm mối bên lòng/ Nên câu tuyệt diệu ngụ trong tính tình cơ mà.

Đoạn thơ trích Gia đình Thúy Kiều mắc oan mà tôi dẫn trên kia, là tác phẩm đưa vào giảng dạy trong nhà trường suốt một thời gian khá dài, qua cả mấy thế hệ học sinh, trong đó có chúng tôi. Đấy là đoạn chán nhất trong Truyện Kiều. Chỉ tiếp theo mấy câu nữa thôi là đến phần xuất sắc của tác phẩm thì chúng tôi không được học. Đó là chuyện trao duyên của chị em Thúy Kiều, Thúy Vân: Cậy em, em có chịu lời/ Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa… Và khi Thúy Vân nhận lời tiếp nhận mối tình của chị thì tấn kịch đã được đẩy lên đến nấc cuối cùng: Ôi Kim Lang, hỡi Kim lang/ Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây… và Kiều ngất xỉu. Phải đến đó, xã hội phong kiến mới được cụ Nguyễn Du tố cáo một cách sâu sắc nhất… Rất may, đoạn thơ tuyệt vời ấy, sau này đã được đưa vào học…

Tôi nghĩ rằng, tác phẩm được tuyển chọn đưa vào học trong nhà trường phải là tác phẩm mẫu mực ở một mức độ nhất định và về mặt nghệ thuật, nó phải đủ độ để các thầy cô giáo có “một khoảng đất” mà khai thác và các em học sinh có “một khoảng trời” của tưởng tượng, mà bay bổng… Không có những cái đó, bài giảng sẽ áp đặt với các khái niệm chung chung và học sinh sẽ chán học văn.

Trở lại với Tố Hữu, phần chúng tôi được học ngày xưa cũng không phải là mảng hay nhất của thơ ông. Đúng ra, đó chỉ là mảng thơ tốt, đại loại: “Dâng tất cả để tôn thờ chủ nghĩa”, hay cuộc đấu tranh quyết liệt giữa cái bụng với cái đầu trong những ngày tuyệt thực ở trong lao qua bài Con cá chột nưa. Bụng đói thì muốn ăn, với lý lẽ: “Có hôi miệng hôi mồm/ Còn có nước khi hôm/ Uống vô là sạch hết”. Những câu thơ như thế, thì giảng thế nào, học thế nào?... Tôi rất thích ba bài: Tiếng hát đi đầy, Nhớ đồng Khi con tu hú. Đó mới đúng là ba bài hay nhất của Tố Hữu viết về tù. Trong đó Khi con tu hú viết về tù mà không có một chữ tù nào. Cũng may, sau này, bài thơ đã được tuyển trong chương trình cải cách. Vì thế, tôi thuộc phía những người ủng hộ sách giáo khoa cải cách. Mặc dù, cuộc cải cách đó vẫn còn nhiều điều không ổn. Thậm chí rất không ổn. Tôi sẽ bàn sau. Ngay trong bài thơ Tố Hữu chọn rất chuẩn này, trong sách hướng dẫn giáo viên, người soạn sách cũng có sự nhầm lẫn đáng tiếc. Khi nhà thơ viết: Trời xanh càng rộng càng cao/ Đôi con diều sáo lộn nhào tầng không... “Đôi con diều sáo” là cái diều có gắn sáo, một trò chơi yêu thích của con trẻ, thường thả vào mùa hè. Nhưng có lẽ vì tác giả gọi là “Đôi con…”, nên nhà soạn sách tưởng là… động vật, là hai con chim diều và chim sáo. Sách hướng dẫn nói nước đôi: Một là cái diều có gắn sáo. Hai là con chim diều chim sáo. Đằng nào thì cũng là tự do. Xin thưa với nhà biên soạn rằng: Có thể có rất nhiều cách hiểu, nhưng không thể hiểu như nhà soạn sách được. Đối với tâm thức người Việt, diều là loại chim ác. Chim diều đã lượn thì chim sáo làm sao còn có tự do. Vả lại diều và sáo không bao giờ bay đôi với nhau để trở thành “Đôi con”. Thấy sáo là diều thịt liền. Thêm nữa, chỉ có sáo mới hót, chứ diều có hót bao giờ đâu. Vậy thì làm sao người tù biết được trên bầu trời đang có diều bay lượn. Người tù trong song sắt, chỉ nghe thấy được chứ không thể nhìn được. Bởi thế, bài thơ mới bắt đầu từ âm thanh, từ tiếng chim tu hú. “Khi con tu hú gọi bầy…” và cùng với tiếng chim là những cảnh sắc được hiện lên: “Lúa chiêm đương chín trái cây ngọt dần/ Vườn râm dậy tiếng ve ngân/ Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào”. Một cảnh sắc bàng bạc trong trí tưởng tượng của người tù. Rồi “Trời xanh càng rộng càng cao/ Đôi con diều sáo lộn nhào tầng không”. Cũng nhờ có tiếng sáo diều mà người tù nghe thấy được cả một bầu trời tự do, cao rộng: “Ta nghe hè dậy bên lòng/ Mà chân muốn đạp tan phòng hè ôi/ Ngột làm sao chết uất thôi/ Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu…”. Đến đây ta mới thấy lồng lộng hiện lên vẻ đẹp tâm hồn của một người tù - chiến sĩ, muốn phá tung xiềng xích, tù ngục để trở về với cuộc chiến đấu sôi sục của nhân dân. Đây là dấu ấn báo hiệu cuộc vượt ngục của Tố Hữu sau này...

Nhà thơ Trần Đăng Khoa

Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Ngắm lại sách giáo khoa

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐỌC NHIỀU NHẤT