Luật Giáo dục đại học sửa đổi: Nếu không xem xét lại hệ thống y tế có nguy cơ không đáp ứng yêu cầu hội nhập

Suckhoedoisong.vn - Ngày mai 6/11, Quốc hội thảo luận về Luật sửa đổi một số điều của Luật Giáo dục đại học. Trong đó có những vấn đề liên quan đến việc đổi mới đào tạo nhân lực y tế theo hướng hội nhập. Theo đó, để hiểu rõ thêm vấn đề này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với TS. Nguyễn Minh Lợi, Phó Cục trưởng Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo, Bộ Y tế - thành viên Tổ tư vấn đổi mới của Bộ Y tế về những nội dung cần sửa đổi và quy định trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học sẽ trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 6.

Trong dự thảo Luật cần thiết phải quy định về loại hình trình độ và văn bằng  trong lĩnh vực y tế

​PV:  Thưa ông, ông có thể cho biết quan điểm của mình về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học sẽ trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 6?

TS. Nguyễn Minh Lợi: Theo tôi, việc sửa đổi này có ý nghĩa rất lớn - Đây là cơ hội lịch sử vì nếu không chúng ta sẽ làm chậm sự phát triển và hội nhập quốc tế thêm ít nhất là 10 năm nữa. Tuy nhiên, qua các cuộc thảo luận và nghiên cứu dự thảo, tôi nhận thấy còn một số vấn đề liên quan đến đào tạo nhân lực y tế Ban soạn thảo chưa thể hiện được tính nhất quán, đồng bộ trong đó có nội dung rất quan trọng của Luật là về trình độ và văn bằng giáo dục đại học.

PV: Vậy theo ông  nội dung rất quan trọng của Luật này liên quan đến lĩnh vực đào tạo nhân lực y tế như ông nói ở trên là gì?
TS. Nguyễn Minh Lợi: Như chúng ta đã biết, ở Việt Nam cũng như trên thế giới, để trở thành người bác sĩ hành nghề chuyên môn, sau khi hoàn thành chương trình đào tạo 6 năm ở trường đại học, người học còn phải đào tạo chuyên khoa, chuyên sâu và thường xuyên đào tạo cập nhật, phát triển nghề nghiệp. Nhưng trong thời gian 6 năm học tập để trở thành bác sĩ, không giống như các chương trình cử nhân khác, chương trình đào tạo bác sĩ bao gồm các hợp phần, nội dung thực hành và các giai đoạn trải nghiệm công việc trực tiếp tại các cơ sở y tế dựa trên các nền tảng lý thuyết. Y học là nhân học nên nội dung chương trình phức tạp hơn nhiều, thời gian dài hơn so với các chương trình cử nhân 4 năm, và thường có định hướng chuyên nghiệp và chuyên môn sâu hơn so với các chương trình cử nhân của các ngành khác.

Chương trình đào tạo và năng lực của chuyên khoa và chuyên khoa sâu (ở Việt Nam hiện nay là đào tạo chuyên khoa 1, chuyên khoa 2 và Nội trú) cũng khác hẳn chương trình và năng lực đầu ra của thạc sĩ, tiến sĩ.

Theo hệ thống trình độ đào tạo và văn bằng của nhiều nước trên thế giới, thường theo hai định hướng đào tạo là hướng hàn lâm (academic) và hướng chuyên nghiệp (professional). Trong đó, đào tạo bác sĩ đi theo hướng chuyên nghiệp nhưng trình độ đào tạo và văn bằng giáo dục đại học (bác sĩ, dược sĩ chuyên khoa sâu gồm chuyên khoa 1, chuyên khoa 2) - đối với những đối tượng này không thể hòa cùng với trình độ và văn bằng cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ.  Và rất tiếc là điều này chưa được thể hiện trong Dự thảo Luật - chính vì vậy cần thiết phải quy định về loại hình trình độ và văn bằng này trong dự thảo Luật.

PV:  Và như vậy thì đây là vấn đề mới trong hệ thống pháp luật của Việt Nam có phải không thưa ông?

TS. Nguyễn Minh Lợi: Tôi xin khẳng định đây không phải là vấn đề mới, mà thực chất Điều 39 Luật Giáo dục năm 1998 của Việt Nam đã quy định và hướng dẫn cụ thể trong Điều 11 Nghị định 43/2003/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Giáo dục 1998; điều này cũng hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế, nhưng rất tiếc là những luật giáo dục hiện hành của Việt Nam chỉ giữ về văn bằng (bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư) mà bỏ mất trình độ và văn bằng chuyên sâu (trong y tế có chuyên khoa 1, chuyên khoa 2 và nội trú). Đặc biệt, trong dự thảo lần này không nói rõ về nội dung này. Vậy sẽ quy định ở đâu? Nếu không quy định ở Luật này thì cần nêu rõ quy định ở đâu và cơ quan nào quy định? Tôi cho rằng Ban soạn thảo đã nhận thấy vấn đề này nhưng hình như không muốn đưa vào Luật nên:
- tại Khoản 1, Điều 6 đã ghi là: "Các trình độ đào tạo của giáo dục đại học quy định tại Luật này bao gồm trình độ đại học, trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ",
- tại Điều 73 giao cho Chính phủ, cơ quan có thẩm quyền: "quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các quy định về xác định chỉ tiêu tuyển sinh, thời gian đào tạo, chương trình đào tạo, điều kiện tổ chức đào tạo, quản lý đào tạo, trình độ tương đương, văn bằng, chứng chỉ phù hợp với lĩnh vực sức khoẻ và một số lĩnh vực chuyên sâu đặc thù”.
Tuy nhiên, Ban soạn thảo đã quy định các trình độ cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ trong Luật nhưng lại giao Chính phủ quy định trình độ tương đương. Như vậy, rõ ràng là Ban soạn thảo đã nhận thấy còn có những trình độ thuộc giáo dục đại học mà không phải là cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ.

Câu hỏi đặt ra là các chương trình đào tạo bác sĩ, chuyên khoa, chuyên khoa sâu sau đào tạo bác sĩ thì là tương đương với chương trình đào tạo của trình độ nào? Quy định ở đâu? Các chương trình đào tạo này không thể tương đương với chương trình cử nhân, thạc sĩ hay tiến sĩ vì đây là theo định hướng đào tạo chuyên sâu nên phải quy định trình độ cụ thể như các nước đã làm. Nếu như không quy định về trình độ cụ thể cho đối tượng đào tạo nhân lực này trong Luật thì giao Chính phủ quy định về xác định chỉ tiêu, thời gian đào tạo… như ở Điều 73 chỉ làm rối hệ thống thêm mà không giải quyết được việc nâng cao chất lượng nhân lực ngành y tế (ví dụ trước đây Khoản 4, Điều 38 Luật Giáo dục đại học 2012 đã giao cho Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện được!).
Nội dung này, Bộ Y tế đã có ý kiến nhiều lần, và theo tôi biết là cũng đã có nhiều ý kiến trong đó Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam, đồng thời đã được thể hiện trong ISCED-2011 do UNESCO ban hành (có thể xem Master’s or equivalent level, trang 55; Doctoral or equivalent level, trang 59).

Chính phủ nên quy định văn bằng chuyên gia đối với một số ngành đào tạo theo định hướng nghề nghiệp chuyên sâu

Đào tạo nhân lực y tế là vấn đề liên ngành chính vì vậy cần được thể chế hoá một cách rõ ràng (ảnh minh hoạ)


PV: Vậy với tư cách là thành viên Tổ tư vấn đổi mới của Bộ Y tế ông có những kiến nghị gì?
TS. Nguyễn Minh Lợi: Như tôi đã trình bày ở trên về những điều bất cập, tôi đề nghị nếu không xác định là "tương đương" như ISCED 2011 thì ghi rõ trong Điều 6 là "Các trình độ đào tạo của giáo dục đại học quy định tại Luật này bao gồm trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ, trình độ chuyên gia", Điều 38 là "Văn bằng giáo dục đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân gồm: bằng cử nhân, bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ, bằng chuyên gia", và quy định tại Điều 73 là "...trình độ, văn bằng, chứng chỉ đào tạo chuyên gia phù hợp...". Nội dung này, theo tôi biết là Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam đã có văn bản số 93/HH-VP ngày 12/10/2018 kiến nghị với Quốc hội.
Như vậy, để đảm bảo thực tiễn và hội nhập, tôi đề nghị sửa đổi các điều theo hướng:
- Khoản 1, Điều 6:
“1. Các trình độ đào tạo của giáo dục đại học quy định tại luật này bao gồm trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ, trình độ chuyên gia. Chính phủ quy định trình độ chuyên gia đối với một số ngành đào tạo theo định hướng chuyên sâu đặc thù.”
- Khoản 1, Điều 38:
“1. Văn bằng giáo dục đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân gồm: bằng cử nhân, bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ, bằng chuyên gia. Chính phủ quy định văn bằng chuyên gia đối với một số ngành đào tạo theo định hướng nghề nghiệp chuyên sâu.”
- Điều 73. Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
Đề nghị bổ sung từ "chuẩn" vào trước cụm từ "chương trình đào tạo" và xác định rõ vai trò của Chính phủ, đề nghị sửa lại là:
"1. Chính phủ, cơ quan có thẩm quyền quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật;
​2. Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các quy định về xác định chỉ tiêu tuyển sinh, thời gian đào tạo, chuẩn chương trình đào tạo, điều kiện tổ chức đào tạo, quản lý đào tạo, trình độ tương đương, văn bằng, chứng chỉ phù hợp với lĩnh vực sức khoẻ và một số lĩnh vực chuyên sâu đặc thù”.​

Một lần nữa tôi cho rằng đây là thời khắc lịch sử, nếu không có lẽ ít nhất 10 năm nữa mới có thể xem xét lại, và như vậy hệ thống y tế có nguy cơ sẽ có những thế hệ đào tạo không đáp ứng yêu cầu bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân và chắc chắn là chưa hội nhập - và không phù hợp với quan điểm đổi mới và hội nhập như Nghị quyết số 29 (khóa XI), Nghị quyết số 20 (khóa XII) của Đảng đã đề ra, cũng như tinh thần hội nhập mà kỳ họp này Quốc hội vừa xem xét là thông qua hiệp định Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!

Đào tạo nhân lực y tế là vấn đề liên ngành quy định về đào tạo do Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì theo Luật Giáo dục đại học; quy định về hoạt động chuyên môn y tế do Bộ Y tế chủ trì theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh và các luật chuyên ngành; quy định về tài chính (chi phí cho đào tạo, thù lao cho giảng viên và người học tại bệnh viện, ...) do Bộ Tài chính chủ trì theo Luật về giá, Luật về phí,...; quy định về vị trí việc làm của giảng viên và người học trong cơ sở y tế khi thực hiện dạy-học, chế độ đãi ngộ do Bộ Nội vụ chủ trì, ... Chính vì vậy, cần được thể chế hóa một cách rõ ràng, hướng tới mục tiêu cuối cùng là người dân được hưởng nền y tế có đội ngũ nhân lực được đào tạo bài bản, có chất lượng, xây dựng pháp luật là để phục vụ đời sống kinh tế-xã hội chứ không phải phục vụ cho cá nhân nào, bộ ngành nào.

 

H.Nguyên

Loading...
Bình luận

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐỌC NHIỀU NHẤT