Mưu sinh trên dòng Đà giang

Suckhoedoisong.vn - Không ánh điện, không nước sạch, những ngư dân đánh cá trên vùng lòng hồ sông Đà vẫn ngày ngày bám trụ mưu sinh giữa chốn sơn thủy nơi đại ngàn Tây Bắc này.

Không ánh điện, không nước sạch, những ngư dân đánh cá trên vùng lòng hồ sông Đà vẫn ngày ngày bám trụ mưu sinh giữa chốn sơn thủy nơi đại ngàn Tây Bắc này. Cuộc sống của họ gần như tách biệt với sự ồn ào, tấp nập của thế giới bên ngoài. Một cuộc sống lặng lẽ, nghèo đói gắn liền với người dân nơi đây mà ít ai được biết tới.

Vô danh trên dòng Đà giang

Chúng tôi có mặt tại cảng Bích Hạ, xã Thái Thịnh, TP. Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình vào lúc 5h30 phút sáng để theo một chiếc thuyền buôn cá do anh Trần Thanh Sơn làm chủ. Trời vừa mờ sáng, không khí nơi đây đã vô cùng náo nhiệt, hàng loạt các thuyền chở hàng tấp nập ra vào cảng để vận chuyển hàng hóa từ Hòa Bình ngược lên Sơn La. Còn các thuyền cá thì vội vã chuẩn bị đồ nghề và lương thực cho một ngày làm việc dọc khắp vùng lòng hồ sông Đà.

Một gia đình trên sông.

Để chuẩn bị cho chuyến hành trình thú vị sắp tới, chúng tôi giúp anh Sơn khuân chuyển hàng nghìn chiếc rọ tôm được đan thủ công hoàn toàn bằng tre cùng rất nhiều nhu yếu phẩm như nước ngọt, xà phòng, bánh kẹo, thịt rau... Tôi băn khoăn hỏi anh Sơn vì sao lại chở nhiều đồ như vậy trong khi chúng tôi sẽ trở về ngay trong tối nay thì anh chỉ cười và bảo: “Còn nhiều điều thú vị khác để bọn em khám phá lắm, cứ lên thì sẽ biết”. Sau 30 phút làm cửu vạn, sự mệt nhọc không đủ để làm mất đi sự hào hứng trong tôi, đúng 6 giờ 5 phút sáng (đi hơn về kém theo quan niệm của dân chài nơi đây), chiếc thuyền mang số hiệu SL 0600 của chúng tôi chính thức nổ máy ngược dòng Đà giang với bao điều bí ẩn đang chờ.

Theo anh Sơn thì toàn bộ vùng lòng hồ sông Đà này rộng khoảng 16,7 nghìn héc-ta, kéo dài từ xã Thái Thịnh (TP. Hòa Bình) qua các xã Vầy Nưa, Tiền Phong, (huyện Đà Bắc). Nơi đây được coi là kho tàng về thủy sinh vật và nguồn lợi thủy sản của vùng Tây Bắc Việt Nam. Thuyền của anh Sơn là một trong số ít thuyền buôn cá trên vùng lòng hồ này. Anh Sơn kể: “Khoảng mấy năm về trước, khi mà người dân đổ xô về đây đánh bắt cá thì có khoảng hơn chục thuyền về đây thu mua, mỗi một chuyến đi, bọn anh đều gom được ít nhất là trên 1 tấn cá các loại, chủ yếu là cá sông tự nhiên chứ chưa có cá nuôi. Có những hôm anh mua được một số loại cá mè, trắm, quất... nặng tới 30 - 40kg. Giờ đây, lượng cá giảm dần, dân chài bỏ hồ đi nơi khác làm ăn, các chủ thuyền vì vậy cũng bán thuyền tìm kế mưu sinh, chỉ còn lại khoảng gần trăm hộ ngư dân sinh sống dọc theo vùng lòng hồ này, họ chủ yếu đánh bắt cá tự nhiên bằng hình thức thủ công, nhỏ lẻ. Đó cũng là khách quen của anh nên mới giữ được nghề này đấy chú à!”. Thuyền chúng tôi lênh đênh chạy được khoảng 2 giờ đồng hồ thì thấp thoáng xuất hiện những chiếc thuyền nho nhỏ, anh Sơn ra hiệu cho mọi người chuẩn bị vợt và lưới để đựng cá. Hộ chài đầu tiên mà chúng tôi gặp là một chiếc thuyền nhỏ kiêm luôn nhà ở, tuy không phải là ngư dân vùng biển, song hai người đàn ông ấy vẫn có một vóc dáng rắn rỏi, lực lưỡng. Vẻ đẹp mộc mạc, chân chất  được pha lẫn giữa con người miền sơn cước và vùng sông nước. Khi tôi hỏi tên anh, người thanh niên rụt rè trả lời: “Hai bố con em “vô danh” mà anh, mà sống ở đây thì cần gì tên, chẳng ai quan tâm và cũng chẳng ai biết, chỉ cần làm sao bắt được nhiều cá đổi gạo và thịt để sống qua ngày là được”.

Thấy tôi có vẻ băn khoăn, anh Sơn cười bảo: “Chú đừng hỏi tên người ta làm gì, dân ở đây ngại lên báo lắm, bố con nhà ấy sống  ở chốn này gần chục năm rồi, cứ bắt được cá lại bán cho anh, đổi lại anh bán gạo và những thứ họ cần cho cuộc sống sinh hoạt hằng ngày. Từ hồi mới lên đây lập nghiệp, anh chưa thấy họ đi đâu bao giờ”. Thì ra ngoài việc là chủ mối thu mua cá của ngư dân ở vùng lòng hồ này, anh Sơn còn là người cung cấp lương thực, thực phẩm cùng những vật dụng sinh hoạt khác cho họ từ A - Z. Đây cũng là lí do tại sao hồi nãy anh Sơn mua nhiều nhu yếu phẩm mang lên thuyền như vậy.

Lấy thuyền làm nhà

Tiếp tục cuộc hành trình, chúng tôi dừng chân tại 2 chiếc thuyền thuộc khu vực đền hai cô (xã Vầy Nưa - Đà Bắc). Người ra bán cá là một ông lão chất phác nhưng cũng rất cứng cỏi, số lượng cá thu được của gia đình ông lớn hơn rất nhiều lần so với hai bố con hồi nãy. Thấy tôi ngạc nhiên, anh Sơn giải thích: “Đây là cá ngạnh sông, vì là cá sông tự nhiên nên thịt nổi tiếng về độ thơm và ngọt. Ngạnh thường  được chia làm 3 loại. Loại A là từ 0,8kg trở lên được anh mua với giá 160.000 đồng/kg, loại B có trọng lượng khoảng  từ 0,3 – 0,4kg mua với giá 90.000 đồng/kg, còn loại C nhỏ nhất có giá từ 30 – 40.000 đồng/kg. Ông lão này là cao thủ bắt cá ngạnh ở vùng này đấy, nếu may mắn, ông ấy có thể bắt được vài chục kg cá ngạnh mỗi ngày chỉ với một chiếc thuyền nhỏ kia thôi chú à”.

Tò mò, tôi trèo sang hẳn thuyền ông lão để tìm hiểu bí quyết bắt cá. Thật may cho tôi, ông lão trò chuyện vô cùng cởi mở và thân thiện. Ông tên thật là Nguyễn Ngọc Thương, năm nay đã ngoài 60 tuổi, vợ chồng ông quê gốc ở huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa, lên dòng Đà giang này sinh sống đã được 7 năm. “Vợ chồng tôi lấy nhau đã mấy chục năm nay mà vẫn chưa có con nên dìu dắt nhau lên đây mưu sinh rồi gắn bó lúc nào không hay anh à. Tuy cuộc sống thiếu thốn đủ đường nhưng gia đình tôi sống rất vui vẻ và  hạnh phúc. Vợ chồng tôi giờ đã có hai chiếc thuyền, một cái dùng để bắt cá, một cái dùng làm nhà, mọi thức ăn nước uống đều do Thuyền trưởng Sơn cung cấp, còn tắm rửa, giặt giũ, nấu nướng đều dùng nước sông hết”, bác Thương chia sẻ.

Thương lái mua cá của người dân.

Săn cá trên sông

Chia tay gia đình bác Thương, thuyền chúng tôi tiếp tục ngược dòng sông Đà nơi chảy qua địa bàn xã Vầy Nưa, ở ven bờ sông không còn nhiều những dãy núi đá kì vĩ nữa mà thay vào đó là những ngọn đồi thoai thoải đầy cây bương, tre và nứa. Đây cũng là những vật liệu chính để tạo nên những dụng cụ bắt cá thủ công như rọ tôm, rọ ngạnh, vó cá, lồng cá... Có một điều đặc biệt ở đây là xuất hiện những ngôi nhà nổi khá kiên cố và vững chãi, áp sát ngay chân đồi. “Đây là những gia đình có hộ khẩu tại xã Vầy Nưa, họ gửi lại con cái cho ông bà rồi vượt núi xuống sông làm kinh tế, ngoài đánh bắt cá tự nhiên, họ còn đầu tư  nuôi cá lồng và chăn nuôi gà nên đời sống khá giả hơn đôi chút”, anh Sơn chia sẻ. Khi thuyền dừng lại mua cá, tôi ghé qua gia đình chị Lương Thị Hồng (46 tuổi - xóm Đá, xã Vầy Nưa). “Vợ chồng chị xuống đây đã được 5 năm rồi, anh chị được 4 cháu, cả nhà chỉ trông vào vài nương ngô nên nhà chẳng lúc nào đủ ăn. Tình cờ được người quen giới thiệu, anh chị gửi con cho ông bà xuống đây mua thuyền, dựng nhà. Vừa đánh bắt, vừa nuôi trồng nên cũng có cái ăn cái mặc, nhà chị chủ yếu nuôi cá trắm, mè và cá ngạnh. Ngoài ra, chị còn đóng chuồng gà ngay trên sông để nuôi, hiện tại cũng được trên trăm con rồi”, chị Hồng tươi cười nói. Ngoài việc nuôi cá lồng, vợ chồng chị Hồng còn hành nghề bắt cá tép (một loài cá nhỏ). Anh Lương Đức Chuyên (chồng chị Hồng) kể: “Để bắt được cá tép cần làm vó cá rộng rãi và đặt những nơi nước chảy nhẹ, không xiết. Thân vó làm bằng cây tre hoặc bương, xung quanh phủ cỏ rêu để ngụy trang, đáy vó thì chăng lưới, cứ đến khoảng 8h tối thì bắt đầu bật đèn để cá vào, khoảng 3 tiếng sau thì chèo thuyền ra vớt. Mỗi ngày như vậy cũng thu được khoảng 1 - 2 tạ cá. Bán cho thương lái một nửa, còn một nửa đem phơi khô để làm thức ăn cho gà và làm mồi bắt cá ngạnh, cá quất... Tuy nhiên, việc đánh bắt này cần máy nổ phát điện nên chi phí cũng tốn kém lắm em à”. Gia đình chị Lương Thị Hồng cũng là một hình mẫu làm kinh tế giỏi tiêu biểu được UBND xã Vầy Nưa khen tặng. Quá trưa, mọi người trên thuyền mới bắt đầu ăn cơm trong khi thuyền vẫn rẽ sóng ngược dòng Đà giang tới địa bàn xã Tiền Phong (huyện Đà Bắc). “Lát nữa, các chú tha hồ mà ngắm cá to, nơi đó được mệnh danh là thủ phủ của Ngư vương đấy”, anh Đinh Văn Hợp (phụ thuyền) kể.

Khi một chiếc thuyền xuôi từ hướng Sơn La về do hai thanh niên cao to, vạm vỡ điều khiển áp sát chúng tôi, tôi vội vã chạy lại xem, quả như lời anh phụ thuyền nói,  lần đầu tiên trong đời tôi được tận mắt nhìn thấy những con cá nước ngọt to đến như vậy, riêng con trắm ước lượng nặng khoảng gần 10kg. Anh Sơn và hai thanh niên kia phải rất vất vả mới bắt, đưa được con trắm này sang thuyền của mình. Sau khi cân, anh Sơn hồ hởi thông báo: “3 “cụ” chép là 18,5kg, “cụ” quất là 5kg, “cụ” trắm là 13kg. Độ này được lộc quá nhỉ?”. Hai người thanh niên nhanh chóng cầm đếm số tiền gần 6 triệu đồng tiền cá, tôi lại gần gặng hỏi: “Cá to như vậy, các anh quăng lưới hay câu được thế?”. Một anh nhìn vẻ mặt ngây ngô của tôi phá lên cười và nói một cách đầy ẩn ý: “Nếu bắt bằng lưới thì chắc chỉ có lưới trời mới bắt nổi mấy cụ ấy thôi chú à”.

Tôi chưa kịp hiểu thì hai thanh niên đã nổ máy chạy thẳng hướng lúc nãy đến. Anh  Sơn nhìn ánh mắt tò mò của tôi giải thích: “Hai người này thường giao cá cho anh, một tuần vài lần, nhưng chỉ giao cá to chứ không giao cá bé, họ bắt được trên thượng nguồn giáp với mạn Sơn La ấy, lần nào giao ít nhất là vài cụ cá. Vì là cá sông tự nhiên lại sống lâu năm nên anh mua giá cao lắm, như chép thì anh mua 120.000 đồng/kg, trắm to nên có giá 150.000 đồng/kg, còn cụ quất là cá hiếm, lại sắp tuyệt chủng nên mua giá 360.000 đồng/kg. Đây là anh mua buôn, chứ còn bán cho thương lái thì giá còn cao hơn nữa”. Tôi thắc mắc về việc làm thế nào để có thể thu phục được những chú cá khổng lồ như thế thì anh Hợp bảo: “Thời buổi bây giờ làm sao mà câu được cá to thế, chỉ có kích điện mới bắt được thôi”. Tôi vỡ lẽ và tự đặt một câu hỏi, liệu rằng các cơ quan chức năng quản lí hệ thống đường thủy trên vùng lòng hồ sông Đà có nắm được tình hình hay không?

Điểm cuối cùng thuyền chúng tôi ghé qua là nhà nổi của chị Nguyễn Thị Thu (xã Tiền Phong, huyện Đà Bắc). Năm nay mới ở tuổi 26, chị Thu và chồng đã sở hữu 4 chiếc thuyền và hàng chục nghìn chiếc rọ tôm, 9 nghìn chiếc rọ tôm nhỏ mà sáng nay chúng tôi khuân chuyển lên thuyền là để bán cho chị Thu. “Cứ mỗi chiếc rọ tôm như vậy anh chị phải mua với giá 4.000 đồng/cái. Cứ xế chiều anh chị lại thả rọ từ đây lên gần tới Sơn La, trung bình mỗi ngày thu được 1 - 2 tạ tôm bán với giá 30.000 - 40.000 đồng/kg. Nhưng chủ yếu toàn là tôm nhỏ, trừ chi phí cũng chỉ đủ ăn đủ mặc thôi em à”, chị Thu chia sẻ. Nhận Tôm từ chị Thu, anh Sơn vòng tàu quay trở về cảng Bích Hạ để đổ buôn những chiến lợi phẩm thu được trong ngày cho thương lái. Kết thúc một chuyến đi đầy thú vị và ý nghĩa mà chúng tôi được trải nghiệm từ con người và cảnh vật trên dòng sông Đà. Cập cảng vào lúc 9 giờ tối, trong đầu tôi vẫn vang lên câu nói của người thanh niên nọ: “Em vô danh mà, sống ở đây thì cần gì tên, chẳng ai quan tâm và cũng chẳng ai biết”.      

Bài, ảnh: Thành Dân

 

 

Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Mưu sinh trên dòng Đà giang

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐỌC NHIỀU NHẤT