Một thời đi học;

Một thời đi dạy (II)

Năm học 1944 - 1945, tôi ở Huế, dạy Trường Hồng Đức. Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính, chính phủ Trần Trọng Kim ra đời.
Năm học 1944 - 1945, tôi ở Huế, dạy Trường Hồng Đức. Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính, chính phủ Trần Trọng Kim ra đời. Lần đầu tiên giáo dục được thực hiện bằng tiếng mẹ đẻ nên học sinh rất phấn khởi. Sau Cách mạng 1945, tôi ra Bắc. Hồi đầu kháng chiến chống Pháp, tôi làm Tổng biên tập tờ báo địch vận bằng tiếng Pháp L’étincelle, đồng thời với việc dạy tiếng Anh ở Nam Định, Yên Mô. Đến năm 1950, tôi lên Việt Bắc, vào bộ đội, phụ trách Ban giáo dục tù hàng binh Âu Phi, từ đó từ biệt ngành giáo dục. Sau Điện Biên Phủ, tôi sang công tác viết sách báo đối ngoại. Nghĩ lại một thời đi học, một thời đi dạy, tôi ghi lại một vài kỷ niệm sau đây:

1 - Thế hệ Quốc văn giáo khoa thư (QVGKT): Năm 1924, tôi đi học chữ nho. Năm 1925, bố tôi chuyển tôi sang học trường Pháp-Việt. Việc thay đổi này xảy ra vào thời điểm có bước ngoặt lịch sử, chính trị, văn hóa của Việt Nam. Cụ Phan Bội Châu bị bắt (1925) và Phan Chu Trinh về Việt Nam (1925) và mất năm 1926, kết thúc giai đoạn chống Pháp của trí thức Nho học. Đến những năm 1930, ngọn đuốc chuyển sang các trí thức Tây học, mà trong đó có một tầng lớp sẽ đi theo kháng chiến chống Pháp (1945-1954). Tầng lớp này, tôi tạm đặt tên là thế hệ QVGKT vì họ đều học ở trường Pháp-Việt, bộ QVGKT ra đời năm 1925. Ngày nay, tuổi họ từ 70 đến trên 90, nhưng gộp làm một với thế hệ QVGKT vì họ cùng theo trường Pháp Việt bắt đầu bằng cuốn này, cùng sống trong một bối cảnh chính trị xã hội.

Do tiếp biến văn hóa, do thực tế đen tối của chính quyền thực dân, tinh thần  dân tộc trong tiềm thức đã khiến các học sinh vứt bỏ cái tiêu cực và tiếp biến cái tích cực của QVGKT. Tiêu cực trong cuốn này là các bài ca ngợi công ơn khai hóa của Pháp, sách được dạy về Việt Nam nhưng chĩa mũi dùi vào Trung Hoa, cho đó là kẻ thù truyền kiếp của ta, ta cần Pháp bảo vệ. Tính toán này sai lầm, vì những bài ca ngợi Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo... lại làm cho học sinh căm thù thêm kẻ xâm lược Pháp. Còn những mặt tích cực của QVGKT là: được học văn phong hiện đại, giản dị, khác với văn chương Nho học, ảnh hưởng sâu sắc là những bài nói về truyền thống quê hương, làng xóm, gia đình. Đó là ngọn lửa tình cảm nuôi dưỡng lòng yêu nước của biết bao chiến sĩ Điện Biên sau này.

2 - Chương trình Hoàng Xuân Hãn: Nhật đảo chính Pháp ngày 9/3/1945, trao Độc lập Việt Nam cho vua bù nhìn Bảo Đại. Nội các Trần Trọng Kim gồm nhiều trí thức có tầm nhưng không phải là chính khách. Hoàng Xuân Hãn - Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục và Mỹ thuật cùng một Hội đồng đề ra một chương trình trung học phổ thông dạy toàn bằng tiếng Việt. Đây là một cột mốc trong giáo dục Việt Nam, vì trước đây, ta phải dùng chữ Hán đến nghìn năm, chữ Pháp đến hơn nửa thế kỷ. Đây là kết quả tiếp biến văn hóa Việt Nam với Hán và Pháp, được chuẩn bị từ mấy chục năm trước bởi các nhà trí thức Việt Nam (truyền bá quốc ngữ, tạo danh từ khoa học Việt Nam). Nhiều thuộc địa châu Phi được giải phóng vẫn phải dùng tiếng Pháp, tiếng Anh. Nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, ta quyết định tạm thời áp dụng chương trình Hoàng Xuân Hãn. Từ đó, ta có nhiều cuộc cải cách giáo dục, nhưng cái lõi vẫn là chương trình Hoàng Xuân Hãn.

3 - Đôi điều về học và dạy qua các thời kỳ: Thời Pháp thuộc, trừ một thiểu số người giác ngộ Cách mạng, đa số học để lấy mảnh bằng kiếm ăn hoặc làm cho Tây tuy họ vẫn ghét Tây. Hiện nay, tôi phát âm tiếng Pháp không chuẩn bằng các cháu tôi vì khi học Trường Bưởi, bạn bè không thích ai bắt chước nhí nhố giọng Tây. Giáo dục thời Pháp tuy có những mặt tiêu cực, nhưng tổ chức thực hiện lại có nhiều điểm hay. Kỷ luật nghiêm, nghĩ mà xấu hổ khi thấy nhà trường XHCN của ta có những hiện tượng thời Pháp không có: đi học trễ, quay cóp, thi cử không nghiêm túc; xưa tuyệt đối không có mua bán bằng cấp, không có học thêm, học sinh có thời gian chơi, giải trí mà tốt nghiệp có trình độ vững. Thầy có trình độ vượt hẳn học trò (ở Trường Bưởi, các tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên và Nguyễn Mạnh Tường ở Pháp về dạy cấp 3, tức Ban tú tài), có đạo đức. Ngay thầy Tây cũng ít người có óc thực dân. Trò ra trò: có ý thức, học rất chăm và tự học thêm, tôn trọng thầy. Có những học trò cũ chỉ kém tôi vài tuổi, nay tóc đã bạc mà năm nào cũng đến chúc Tết. Tôi tiếp tục dạy từ đầu Cách mạng và kháng chiến đến 1950 thì biệt phái sang quân đội. Thời kỳ dạy học này hồ hởi khó quên vì thầy và trò sống trong không khí độc lập của toàn dân. Tình sư đệ phong kiến chuyển thành tình huynh đệ dân chủ. Học sinh gọi các giáo viên bằng anh, chị thân mật mà không suồng sã. Khu 3 và khu 4 bị địch phong tỏa, bắn phá, oanh tạc, có nguy cơ bị địch chiếm, đời sống vật chất rất khó khăn, nhưng không khí dạy và học vừa nghiêm túc vừa tình cảm. Đến năm 1950, tổng động viên, tôi thôi dạy, học trò nhập ngũ đến ba phần tư, họ sẽ thành những cán bộ xuất sắc trong quân đội và mọi ngành.

Sau ngày thống nhất đất nước, vượt qua hàng rào ý thức hệ, các học sinh cũ Nam Định, Yên Mô ở hai chiến tuyến cũ tổ chức họp mặt (ở Việt Nam mời cả thầy cô) và giao lưu với nhau. Ngày nay, thời bình, sinh hoạt vật chất khá hơn, tại sao tình thầy trò kém đi? Đạo đức nhà trường và học tập có những mặt kém xưa? Điều này, giáo dục phải chịu trách nhiệm phần lớn, nhưng cũng chỉ là một phần thôi, vì giáo dục nằm trong mối liên quan nhà trường - gia đình - xã hội (kể cả kinh tế). Giáo dục là một mắt xích. Chính thể phải điều chỉnh các khâu!. Trong khung cảnh toàn cầu hóa, giáo dục đang bị thương mại hóa vì xã hội chạy theo chủ nghĩa vật chất tầm thường và chủ nghĩa tiêu thụ.    

  Hữu Ngọc

Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Một thời đi dạy (II)

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐỌC NHIỀU NHẤT