Một khuynh hướng cách tân thơ rất đáng trân trọng

Suckhoedoisong.vn - Nhà thơ Nguyễn Bình Phương hiện là Tổng Biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Ông là nhà thơ hậu chiến theo khuynh hướng cách tân.

Nhưng thơ ông có những điều khác lạ mà người khác không có. Thơ Nguyễn Bình Phương dễ đọc và gần gũi với cuộc sống hàng ngày so với những người cùng khuynh hướng. Tuy nhiên, để có được điều ấy, nhiều khi ông đã phải vượt qua những chướng ngại tưởng chừng như không thể. Vậy mà ông đã thành công.

Loay hoay đi tìm con người công chức hay nghệ sĩ?

Có lẽ Nguyễn Bình Phương là người duy nhất trong số các nhà thơ hiện đại Việt Nam đặt vấn đề về mối quan hệ giữa con người công chức và con người nghệ sĩ. Điều ấy cho thấy một thực tế là ở Việt Nam rất hiếm có nhà thơ chuyên nghiệp mà phần lớn vẫn là những công chức - nghệ sĩ. Dù là ở thời kỳ nào của sự phát triển kinh tế - xã hội của nước Việt Nam hiện đại: thời chiến, bao cấp hay kinh tế thị trường thì người Việt cũng thường khoác lên mình danh xưng về mặt xã hội trước tiên là làm gì, ở đâu, sau đấy mới đến các danh xưng khác mang tính nghề nghiệp như: nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nhạc sĩ hay nhà khoa học...

Khi nền kinh tế nước ta bắt đầu chuyển sang hướng phát triển thị trường (1986), chàng thanh niên mang tên Bình Phương mới vừa 21 tuổi. Cho đến khi anh ra tập thơ đầu tiên Lam Chướng (1994), tức là lúc anh mới gần 30 tuổi, mà đã phải tự cật vấn mình, đối mặt với một thực tế trong sự lựa chọn đầy khó khăn: công chức hay nghệ sĩ: Này tôi/ Một khuôn mặt công chức/ đứng nhìn/ những cuộc họp rạc rài/ tiêu ma bao ý tưởng... (Bài thơ cũ).

Nhà thơ Nguyễn Bình Phương.

Nhà thơ Nguyễn Bình Phương.

Bình sinh, nhà soạn kịch nổi tiếng NSND Tào Mạt có một tâm niệm rất hay: Đã làm quan thì đừng làm hề và ngược lại vì hai thứ ấy đố kị nhau lắm. Làm quan, dù nhỏ hay lớn cũng là làm một con người tự nhiệm, mang trong mình nghĩa vụ và trách nhiệm phải hoàn thành công việc theo ngạch bậc mà mình đang đảm trách trước cộng đồng, xã hội. Làm hề, dù vai của anh méo mó hay tròn trịa cũng là tự anh làm, không bao hàm nghĩa vụ vì ai mà chỉ vì anh, cho anh và của anh. Như vậy, với tư cách là hề, anh hoàn toàn tự do sáng tạo trên thi đàn.

Ứng vào trường hợp Nguyễn Bình Phương mới thấy tâm niệm ấy của NSND Tào Mạt khá sát hợp. Dẫu rằng chỉ là một công chức quèn, vậy mà ông thật sự lúng túng: Một cái chức nhỏ bé/ Một cái chức lăn như cỏ lông chông (...) Một cái chức liu riu ánh vàng (...) Người ạ, ấp má vào vai nghe máu thở/ Không ngồi thì đứng vững cùng mưa/ Vung tay vẽ, người ạ, nét bập bùng của lửa/ kẻo cái chức nhì nhằng vẽ bậy xuống đời ta... (Gửi người khổ sở).

Có thể nói, đối với thơ Việt hiện đại, kể từ các nhà thơ của phong trào Thơ Mới cho đến nay, theo chỗ tôi biết, Nguyễn Bình Phương là người hiếm hoi và mạnh bạo đặt vấn đề con người công chức và con người nghệ sĩ một cách trực diện đến như vậy. Điều này chúng ta chỉ có thể bắt gặp trong thơ Việt thời kỳ Trung đại, đối với một số người sau khi đã chán cảnh quan trường, mà vẫn còn day dứt về thân phận công chức và nghệ sĩ như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ... Còn Nguyễn Bình Phương từ khi còn là anh lính hay có chăng chỉ mới là một anh công chức quèn mà đã có những ý nghĩ táo bạo như vậy. Đấy là điều khác lạ thứ nhất của ông.

Người sử dụng từ láy nhiều và lạ

Tôi chọn ngẫu nhiên 87 bài thơ của Nguyễn Bình Phương để làm một khảo sát nho nhỏ, thật bất ngờ thấy ông sử dụng rất nhiều và rất lạ các từ láy trong thi phẩm của mình.

Trong số 87 bài thơ tôi khảo sát có tới 457 từ láy đôi và láy ba, như vậy, bình quân mỗi bài thơ của ông có tới 5,25 từ láy, trong đó có một số từ láy được lập lại tới 3 lần trong cùng một bài thơ: Nhưng ở nơi trống không rờn rợn ấy/ nơi chết lặng/ vẫn tích tắc tích tắc tích tắc (Kẻ ngoài cuộc). (...) Ai rót rượu vào trăng/ Sương như mắt thiếu phụ về dĩ vãng/ Đêm/ Lang thang/ lang thang/ lang thang (Linh nham đêm). (...) Lạ lùng ơi lạ lùng/ Vườn có xanh như ngọc/ Ngọc còn xanh quái đản như trời/ Em kiêu hãnh làm tôi mệt mỏi (...) May áo màu rêu em mặc tới mùa thu (...) Vệt sáng qua sông thoang thoảng hương nhài /Lạ lùng ơi lạ lùng không dừng lại/ Yêu em có nghĩa là yêu mây xa/ Nghĩa là yêu chiếc khăn màu cỏ úa (...) Không ai chèo đò cho tình yêu qua sông/ Lạ lùng ơi lạ lùng nổi sóng/ Sóng đưa hai ta trôi dạt về đâu... (Than thở).

Trong tổng số 87 bài thì 20 bài có từ 8 - 23 từ láy, 15 bài có số từ láy trên dưới một nửa số đơn vị câu thơ. Cũng xin nói thêm rằng, đối với thơ hiện đại, đặc biệt là thơ của các nhà cách tân, khái niệm câu thơ rất khó xác định, câu thơ không còn được viết một dòng, mà có khi là vài dòng, số từ trong một câu có khi là một, nhưng có khi là hàng chục, nhất là đối với thơ văn xuôi và truyện - ngắn - thơ thì lại càng khó xác định hơn. Xu hướng chung hiện nay, các nhà thơ không thích dùng dấu chấm (.) để ngắt câu như qui tắc ngữ pháp thông thường vì họ cho rằng làm như vậy mạch cảm xúc sẽ bị ngắt quãng. Chính vì lẽ đó, khi khảo sát các văn bản thơ, chúng tôi tạm dùng khái niệm đơn vị câu thơ cho dễ phân biệt với câu thơ truyền thống Việt Nam.

Với Nguyễn Bình Phương, chúng tôi thấy có lẽ đây là nhà thơ hiếm hoi nhất sử dụng nhiều từ láy đến như vậy. Nhưng vấn đề không dừng lại ở số lượng từ láy nhiều mà quan trọng hơn là dù nhiều nhưng người đọc không cảm thấy nhàm chán vì chúng làm giảm giá trị tư tưởng và thẩm mỹ của bài thơ, thậm chí nhiều khi là ngược lại.

Việc sử dụng nhiều từ láy trong thơ của Nguyễn Bình Phương cho thấy về phía chủ quan nhà thơ, chúng biểu hiện rõ thái độ ngập ngừng, lúng túng của chủ thể sáng tạo trong việc lựa chọn khuynh hướng thơ và lựa chọn tư cách cá nhân: công chức hay nghệ sĩ. Đối với việc lựa chọn khuynh hướng thơ cách tân, Nguyễn Bình Phương có vẻ như dứt khoát hơn vì trong số những bài thơ chúng tôi khảo sát thấy rất ít, thậm chí là không đáng kể những bài thơ của ông được viết theo khuynh hướng truyền thống hay khuynh hướng cách tân trên cơ sở truyền thống. Còn sự lựa chọn tư cách cá nhân, có lẽ ông đã chọn cả hai: công chức và nghệ sĩ. Vì thế, thơ Nguyễn Bình Phương vừa mới lạ về hình ảnh, bất ngờ trong liên tưởng, sắp xếp, tự nhiên về giọng điệu, vừa gần với ngôn ngữ sinh hoạt đời thường của con người nên khi đọc người ta thấy không quá khó hiểu.

Về phía người tiếp nhận văn bản thơ, từ láy là cách làm mềm hóa câu thơ, tạo nên những điểm dừng nghỉ, ngắt hơi lấy sức để đọc tiếp. Nếu như không có những từ láy ấy, bạn đọc sẽ rất khó tiếp nhận loại văn bản thơ viết liền tù tì như vậy. Minh chứng sinh động nhất là bài: Những cư dân đồng bằng sông Hồng. Bài thơ gồm 7 câu mà có tới 23 lần Nguyễn Bình Phương sử dụng các từ láy như: ngó ngàng, tuồn tuột, nhấm nhẳng, ngọt ngọt, nhẩn nha, hối hả, đêm đêm, ú ớ, nhòa nhạt, dầm dề, lăn tăn, nghĩ ngợi, ngần ngật, leo lẻo...

Đơn vị câu thơ cuối cùng của bài thơ là dài nhất có tới 73 từ, trong đó có 5 từ láy, mặc dù trong đơn vị câu thơ này Nguyễn Bình Phương đã dùng hai dấu chấm để ngắt câu, theo cấu trúc của câu văn xuôi, nhưng lại vẫn nằm trong một đơn vị câu thơ: Tôi đã tới thượng nguồn sông Hồng, ngầu, mênh mông, dữ tợn là thế mà sinh ra một châu thổ lững lờ. Họ ở châu thổ ấy, rải rác, lo căng trong yên ả, khi hiểm nguy thì xúm lại thành rừng. Đừng ca tụng họ, đừng rắc bạc lên phù sa vì phù sa đã bạc, hãy trồng thêm những bãi bờ lơ đễnh, nếu bình yên là điều anh mong đợi (Những cư dân đồng bằng sông Hồng).

Đặc biệt, Nguyễn Bình Phương đã đưa vào trong các thi phẩm của mình nhiều từ láy khá lạ đối với không ít người: quật quã, rạc rài, rườm rườm, ngun ngún, ngơ ngất, nhòa nhạt, rờ rỡ, nhấm nhẳng, ngần ngật, than van, quầng quã, tạt nhạt, tung tóa... nhưng ta vẫn không cảm thấy lạ hoắc như đánh đố người đọc, cũng không hề dễ dãi, mà được chắt lọc rất kỹ, tạo nên một sắc thái riêng cho thơ ông. Điều ấy cần ghi nhận như là một sự đóng góp cá nhân của nhà thơ vào tiến trình đổi mới thi ca Việt đương đại và cũng phần nào nói lên khuynh hướng đổi mới thơ mang nghệ hiệu Nguyễn Bình Phương, mà không dễ gì ai cũng có thể làm được. 

Đỗ Ngọc Yên

Loading...
Bình luận

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐẶT CÂU HỎI & NHẬN TƯ VẤN MIỄN PHÍ TỪ CHUYÊN GIA
ĐỌC NHIỀU NHẤT