Một đời đi và viết

Suckhoedoisong.vn - Có thể nói, văn học Việt Nam hiện đại có hai nhà văn rất ít làm thơ nhưng lại có bài thơ để đời, đó là Nguyên Hồng với Cửu Long giang ta ơi! Và Nam Hà với Chúng con chiến đấu cho Người sống mãi Việt Nam ơi!

10 năm ở chiến trường

Năm 1964, Nam Hà từ tạp chí Văn nghệ Quân đội đi B dài. Lúc đó Trung tướng Lê Quang Đạo, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị gọi vào dặn dò: “Hoàn cảnh chiến tranh không viết dài ngay được, nhớ tích lũy để sau này viết dài”. Vào chiến trường, rồi trở ra nhiều năm sau, ông thực hiện đúng như thế.

 

Nhà văn Nam Hà (giữa) trong một lần đi lấy tư liệu ở một đơn vị chiến đấu.

Vừa đặt chân đến vùng đất nóng bỏng Nam Trung Bộ, ông “viết ngắn”, không phải ở thể văn quen thuộc, mà thuộc địa hạt thơ. Và có được thành công ngoài mong đợi. Đó là trường hợp bài Chúng con chiến đấu cho Người sống mãi Việt Nam ơi! Đây không phải lần đầu ông làm thơ. Năm Nam Hà 18 tuổi, đang là lính chiến thuộc Tiểu đoàn 195, Nghệ An, đau đớn trước mất mát quá lớn, một đại đội thuộc tiểu đoàn hy sinh gần hết, ông viết tại trận 150 câu thơ khóc đồng đội. Đến lễ truy điệu, Chính trị viên Tiểu đoàn bảo ông lên đọc thay điếu văn bài thơ đó (điếu văn bằng thơ là điều hiếm trong thời hiện đại, còn cổ xưa phổ biến thể “văn tế” - một loại thơ khóc thống thiết, có mẹo luật). Và lần này, khi đã là người lính dạn dày trận mạc, Đường dài đi giữa Trường Sơn/nghe vọng bài ca đất nước, cảm hứng sử thi hùng tráng đến với ông, trong bài có những câu thơ hay đến bất ngờ: Đất nước/Của những người con gái, con trai/ Đẹp như hoa hồng, cứng như sắt thép/ Xa nhau không hề rơi nước mắt/ Nước mắt để dành cho ngày gặp mặt... Rồi ông nhờ người bạn ở Thông tấn xã Việt Nam đánh “mooc” gửi ra miền Bắc. Sau chừng nửa năm, ông cũng quên lần gửi bài hú họa như thế, một đêm trong rừng Bình Thuận, mở đài nghe buổi tiếng thơ, thì đúng lúc nghệ sĩ Linh Nhâm đang ngâm bài thơ đó. Sau này ra Bắc ông mới biết, Chúng con chiến đấu... đã sớm được đăng trên báo Nhân Dân và bài thơ hay ra đời trong khung cảnh “tất cả cho tiền tuyến!” được đón nhận như một của quý hiếm, nhân lên, đi vào lòng quần chúng. Năm 1973, ông được phân công đón tiếp các tù binh chiến tranh trở về ở sân bay Lộc Ninh. Khi người chỉ huy giới thiệu tên ông với những người lính vừa bị địch bắt tù đầy, thì họ ùa đến vây quanh ông. Họ nói rằng, trong nhà tù đảo Phú Quốc, nhờ cái radio bé xíu giấu được, họ đã lén nghe buổi tiếng thơ, bài thơ đó đã tiếp thêm sức mạnh tinh thần cho họ vượt qua được những đòn tra khảo hiểm độc của kẻ thù. Lần khác, về thăm quê Đô Lương, Nghệ An. Khi ông đưa thẻ thương binh mua vé (ông là thương binh chống Pháp hạng 4/4), thì bất ngờ những người đang xếp hàng dài, mà phần đông từng mặc áo lính, nhận ra ông là tác giả bài thơ đã động viên, khích lệ họ rất nhiều trong cuộc chiến gian khổ, khốc liệt vừa qua. Và theo yêu cầu của họ, một góc bến xe Vinh biến thành “sân khấu”, ông trong bộ quân phục bạc màu, ba lô con cóc sau lưng, đứng đọc Chúng con chiến đấu... giọng trầm hùng xúc cảm trước hàng trăm khách vãng lai.

Nhưng văn mới thực sự là “tạng” của ông, “số phận” của ông. Dạo đó ở ta còn ít tiểu thuyết sử thi về đề tài chiến tranh. Từ buổi đầu, ông đã đinh ninh rằng nhất định mình sẽ viết tiểu thuyết sử thi chiến tranh cách mạng. Cuộc kháng chiến chống Mỹ vào giai đoạn ác liệt, các nhà văn mặc áo lính ở ngôi nhà Văn nghệ Quân đội số 4 Lý Nam Đế (Hà Nội) lần lượt vào chiến trường, đợt đầu có Nguyễn Ngọc Tấn, Nguyên Ngọc... Rồi Nam Hà, Nguyễn Trọng Oánh. Suốt 10 năm, Nam Hà ở nơi gian khổ, ác liệt nhất là Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ. Ông và Nguyễn Trọng Oánh đi B quá lâu, từng bị “bỏ quên quân hàm”, Nguyễn Trọng Oánh thì phong đại úy... 2 lần. Không mấy nhà văn có được vốn trận mạc như ông. Tham gia Ban Chỉ huy chống lại trận càn của Mỹ và Đại Hàn vào Bắc Ái (Ninh Thuận) năm 1967; trong đội hình Tiểu đoàn 840, Quân khu 6 tổng tấn công Tết Mậu Thân (1968) vào thị xã Phan Thiết (Bình Thuận); đi chiến dịch Nguyễn Huệ trên hướng đường 13 (sau này được mô tả kỹ lưỡng trong Trận chiến đấu trên đường 13, một tập thuộc bộ tiểu thuyết Đất miền Đông); tham gia giải phóng thị xã Phước Long cuối năm 1974... Ông cũng “đóng” nhiều vai: phái viên mặt trận, trợ lý chính trị, phóng viên chiến trường. Ông còn “nhiễm” tác phong của người chỉ huy quân sự, cũng có phương án tác chiến của riêng mình, nhiều khi tự vẽ bản đồ trận đánh để chiêm nghiệm, có cả la bàn trong túi dết mỗi khi vào trận. Ông thường xung phong đến nơi nóng bỏng nhất, cấp trên sợ có sơ sảy gì với “của hiếm” của mặt trận, cũng có lần hạn chế ông, như chiến dịch Đường 13 năm 1972, trung đoàn chỉ cho phép ông xuống tới sở chỉ huy tiểu đoàn... Không ít lần ông còn tranh luận trực tiếp với người chỉ huy chiến dịch về việc bày binh bố trận sao cho ít tốn xương máu người lính nhất, như lần với Sư đoàn trưởng Sư đoàn 7 Lê Nam Phong (trong Đất miền Đông chính là nhân vật Sư trưởng Đàm Lê). Gặp tướng Hoàng Cầm, Tư lệnh Quân đoàn 4, người chỉ huy trận đánh cuối cùng ngày 9/4/1975, ông chất vấn: “Tại sao quân đoàn lại đánh theo cách đó, trong khi có cách đánh khác ít bị tổn thất hơn?”. Tướng Hoàng Cầm có phần bất ngờ, hỏi lại: “Nếu làm tư lệnh, đồng chí đánh thế nào?”. Nhà văn liền giở sổ tay, lấy trong túi dết ra tấm bản đồ chiến dịch, trình bày cách đánh. Tư lệnh chăm chú nghe, rồi vỗ vai nhà văn bảo: “Này, Nam Hà. Nên nhớ trong chiến tranh không phải lúc nào lý trí cũng thắng được tình cảm. Tôi cũng từng đề xuất cách đánh như đồng chí, nhưng không được cấp trên chấp nhận...”.

10 năm cho những bộ tiểu thuyết sử thi...

Đất nước thống nhất, ông cùng một số bạn văn nghệ đi từ rừng ra, da xanh mét vì sốt rét, trong người còn mảnh đạn. Họ đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh người lính, còn sứ mệnh nhà văn? Đây mới là lúc “viết dài” như lời dặn dò của cấp trên dạo nào. Trong đầu đầy ắp ký ức chiến tranh, ông bình tâm ngồi vào bàn viết, trang giấy trắng lóa trước mặt. Có thể trời không cho ông nhiều năng khiếu, ông viết văn khó nhọc như người nông dân cày trên đất ruộng khô cằn. Nhưng bù lại vốn sống ngồn ngộn, cộng với sự cần cù, nhẫn nại, tỉ mỉ trong tích lũy tư liệu; sự dũng cảm, trung thực của người lính khi phơi bày hiện thực của chiến tranh, đã đưa ông trở thành nhà văn quân đội hàng đầu ở nước ta bởi khối lượng tác phẩm đồ sộ, nội dung hoành tráng về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thời kỳ này, Tổng cục Chính trị có dự án tổng kết hai cuộc chiến tranh giữ nước bằng bộ ký sự lịch sử Trận đánh 30 năm. Nhiều nhà báo quân đội kỳ cựu được triệu tập, Nam Hà là nhà văn duy nhất tham gia Ban Ký sự lịch sử. Thời gian này, ông còn được “bổ sung vốn” bằng những tập hồi ký của tướng tá ngụy, chính khách Mỹ viết về cuộc chiến. Ông dàn dựng tác phẩm hệt như chuẩn bị cho một chiến dịch lớn ngày nào. Để viết Đất miền Đông, ông hệ thống tư liệu trong 5 năm trời. Khi sách in ra, bạn văn Nguyễn Khải bảo: Nam Hà khéo thật, cái không đưa được vào Trận đánh 30 năm thì đưa vào Đất miền Đông, trở nên phong phú, đa chiều. Tướng Chín Vinh từng là Phó chính ủy Quân giải phóng miền Nam thì có nhận xét riêng về các nhân vật chỉ huy: Tác giả đã nêu được trăn trở, diễn biến tư tưởng của các chỉ huy chiến trường chúng tôi một cách cụ thể, chân xác và sâu sắc. Đó là các tiểu thuyết sử thi: Ngày rất dài (2 tập, 1.100 trang) phản ánh cuộc chiến tranh cục bộ của Mỹ giai đoạn 1965-1968; Trong vùng Tam giác sắt (2 tập, 850 trang) về chiến tranh đặc biệt 1969-1971; Đất miền Đông (3 tập, 2.200 trang) giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh giải phóng.

Năm 2007, Nam Hà được trao Giải thưởng Nhà nước cho hai tác phẩm Đất miền ĐôngTrong vùng Tam giác sắt. Trước đấy ông đã được nhận nhiều giải thưởng văn học của Bộ Quốc phòng, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Ông trong số không nhiều những nhà văn khoác áo  lính được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Độc lập.

Và cách “thư giãn” trong những năm tháng tuổi già

Từ khi nghỉ hưu, ông cảm thấy không còn được sung sức như trước, đôi khi đầu váng vất, trái tim loạn nhịp. Vào Viện 108 khám, các bác sĩ đã phát hiện ông bị mỡ máu cao, men gan cao... Thầy thuốc khuyên ông nghỉ ngơi, bởi ông đã vất vả quá nhiều. Nhưng nghỉ cầm bút với người đã từng viết những bộ sử thi chiến tranh hàng vài nghìn trang thì không dễ chút nào. Nghỉ viết là suy sụp ngay. Ông nghĩ ra cách thư giãn đầu óc bằng việc lại tiếp tục đi thực tế, lần này thì đi không còn vất vả như lần trước nữa. Ông theo các đơn vị xây dựng kinh tế, vừa để giải tỏa đầu óc, đồng thời nạp “năng lượng” mới. Những năm giữa thập kỷ 80 của thế kỷ trước, khi Bộ Năng lượng xây dựng đường dây 500KV, ông hăng hái đăng ký đi cùng những người thợ dựng cột, kéo dây. Lại có hàng năm trời đi suốt ngoài Bắc trong Nam. Sau này, ông tiếp tục cho ra mắt bạn đọc các tiểu thuyết về người lính thời bình như: Dưới những cánh rừng ô rô (năm 2005); Thời hậu chiến (năm 2007) là do có được những chuyến đi đáng nhớ như thế.

Giờ ở tuổi ngoại tám mươi, tuy sức viết, sức nghĩ đã giảm sút nhiều, song điều ông “thu hoạch” sau những năm tháng xây dựng đất nước trong hòa bình không nhất thiết tính bằng tác phẩm nữa, mà nhờ cách sống chủ động, tích cực như thế, đã góp phần cải thiện được đáng kể tình trạng sức khỏe. Một đời văn, sống và viết được như ông, thực sự có mấy người!

Phạm Quang

Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Một đời đi và viết

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐỌC NHIỀU NHẤT