Mới hay hồn cốt làng nghề

Phải nói ai đã ở Hà Nội xưa thì không thể không nhớ đến bài ca dao về 36 phố phường Thăng Long xưa. Bắt đầu từ câu: “Hàng Bồ, Hàng Bạc, Hàng Khoai/Hàng Buồm, Hàng Thiếc, Hàng Bài, Hàng Khay…”.

Phải nói ai đã ở Hà Nội xưa thì không thể không nhớ đến bài ca dao về 36 phố phường Thăng Long xưa. Bắt đầu từ câu: “Hàng Bồ, Hàng Bạc, Hàng Khoai/Hàng Buồm, Hàng Thiếc, Hàng Bài, Hàng Khay…”. Mỗi phố “Hàng” là thuộc một làng nghề. Nó đều có gốc gác riêng, có đền thờ tổ nghề, có đình làng và những dòng họ người thợ lành nghề.

Cái thú rủ nhau đi khắp Long Thành chơi phố “Hàng” giờ đã mất mà thay thế bằng các cuộc du hí làng nghề. Đó là những cuộc chơi về cái gốc của mỗi phố “Hàng” xưa. Tôi cũng hay “phượt” chợ đây đó. Nói đến “phượt” bởi lẽ có chợ làng nghề cũng xa lắm, tới hơn 50 cây số như chợ hàng Khảm ở Chuôn Ngọ, Phú Xuyên hay xa hơn nữa là làng nghề tò he Xuân La cũng ở huyện này. Ấy là chưa nói nếu “phượt” lên Ba Vì, vào làng chè Ba Trại thì còn xa nữa…

Mới hay hồn cốt làng nghề 1
Làm đồ gỗ trạm khảm.

Hà Nội có đến hơn 1.300 làng nghề, ắt hẳn cũng có tới 1.300 cái chợ bán sản phẩm của làng và cứ xếp lịch đi chơi chợ theo thứ tự vần chữ cái của tên chợ thôi cũng đã quanh năm suốt tháng. Không tuần nào tôi không đi đến chợ của một làng nghề nào đó. Cho dù chỉ là đi chơi, đi ngắm hàng, thích thì mua không thì hẹn lần khác lại đến. Nhưng ít ra mỗi lần như vậy tôi cũng thuộc hay biết đến một câu ca dao của làng nghề đó. Câu ca dao mới nhất, gần đây tôi thuộc trong dịp đến chợ quê bỏng kẹo làng Lủ, rằng: “Mình từ làng kẹo mình ra/Nên mình mới ngọt cho ta phải lòng”. Thế là vui rồi.

Hiện nay, mọi người đang quan tâm tới cái gọi là kết hợp du lịch với văn hóa làng nghề, cho dù hiện không ít làng nghề truyền thống xưa đã mai một hoặc khó có thể giữ cho trọn vẹn. Nhưng du khách đến các làng nghề hiện nay sẽ được tiếp nhận nét văn hóa nào của làng nghề nếu chỉ đi dạo quanh chợ, xem hàng? Cùng lắm hướng dẫn viên nào có kinh nghiệm hoặc có kiến thức sẽ nói qua những nét chính về sự phát triển hoặc đặc điểm của làng nghề mà họ đưa du khách đến. Đấy cũng gọi là khả dĩ nhưng vẫn không thể rõ màu sắc văn hóa của nơi đó. Sự phiến diện về văn hóa chính là một căn bệnh trong hành trang của ngành du lịch Hà Nội bấy lâu nay. Chính vì thế mà nhiều du khách đã không muốn quay lại. Nói đến môi trường hay nói đến công nghệ thì không có gì khó, khắc phục nó chỉ ngày một ngày hai, nhưng du khách đâu có quan tâm, mà họ cần biết đến cái thần thái và đời sống xã hội ngàn năm, phía sau sản phẩm, cho dù đẹp hay xấu.

Mới hay hồn cốt làng nghề 2
Cả nhà làm nón.

Nếu ai từng đến làng khảm trai ở làng Ngọ, thuộc xã Chuyên Mỹ, huyện Phú Xuyên sẽ thấy hầu hết những sản phẩm đẹp ở đây đều do những nghệ nhân trẻ thực hiện với từng công đoạn khó nhất của nghề khảm này, với những sắc màu và hình tượng hết sức phong phú. Nếu  có dịp, du khách vào thăm nhà nghệ nhân trẻ Nguyễn Văn Lãng mới ngạc nhiên khi thấy những tác phẩm khảm trai của anh thật tinh xảo. Đặc biệt, anh đã được nghệ nhân giỏi nhất làng là cụ Trần Bá Dinh truyền cho kỹ thuật khảm chân dung, một trong những thủ pháp khó nhất của nghệ thuật khảm trai ốc trên gỗ quý. Nguyễn Văn Lãng qua sản phẩm khảm chân dung Bác Hồ đã được giải thưởng, đoạt kỷ lục về bức khảm chân dung lớn nhất và được đặc cách phong danh hiệu Nghệ nhân làng nghề khi mới tròn 30 tuổi. Sinh thời, nghệ nhân Trần Bá Dinh rất tự hào về người học trò còn nhỏ tuổi này bởi độ khéo tay và ham học hỏi, nhẫn nại ngày đêm thực hiện cho đến độ hoàn hảo nhất sản phẩm. Sắp tới, một nghệ nhân trẻ khác của làng là Nguyễn Đình Vinh cũng thực hiện tác phẩm khảm chân dung Bác Hồ trong ngày đọc Tuyên ngôn Độc lập, khổ lớn (1,93mx1,28m) với hy vọng xác lập kỷ lục mới về khổ tranh khảm trai lớn nhất hiện nay.

Không khí ganh đua trên ở các làng nghề đã tạo nên một không khí thi đua sôi nổi của những người thợ trẻ. Ngay ở làng nón Chuông ta cũng thấy sự tất bật của những người thợ trẻ trong công việc. Chính vì có các cụ khéo tay và giữ gìn nghề của làng như cụ Viết, cụ Canh, cụ Ba, cụ Hai Cát... nên mới có các trò giỏi như anh Tuy, chị Hương. Vậy nên mới có chiếc nón khổng lồ của làng Chuông do Cơ sở sản xuất Hùng Vương của chị Hương làm tạo nên biểu trưng cho dân tộc trước Hội nghị thượng đỉnh APEC từ năm 2006.

Tôi chợt nhớ đến một chuyến đi chợ quê ở một làng nghề nổi tiếng lâu nay cùng với một người bạn, nhưng chuyến đi đã làm tôi giật mình và mường tượng rằng, phải chăng đây  gọi là sự quan tâm đến văn hóa của du khách đến làng nghề. Thực ra, tôi là một tay chuyên sưu tầm các loại ấm trà với nhiều chất liệu, kiểu dáng đã vài chục năm nay nên tôi hay lang thang, lọ mọ đến những nơi bày gốm sứ. Bất kể nơi nào, từ các cửa hàng trên phố hay bến bãi dọc các triền sông, ở nhiều tỉnh lẻ và địa phương nào có lò gốm nổi tiếng, tôi đều mò tới. Riêng chợ gốm Bát Tràng thì không mấy khi vắng mặt. Tôi cứ đi và chợt gặp, chợt mua những cái ấm mới mà mình thích với mọi màu sắc. Có nhiều đận tôi còn tạt vào xưởng của các nghệ nhân ở trong làng để thăm dò hàng nên khá thông thuộc mọi nguồn ấm tách ở cái làng gốm 700 năm này.

Mới hay hồn cốt làng nghề 3
Chuông gió làng gốm Bát Tràng.

Mới đây, nhà văn Y Ban nhờ tôi đưa bà Ka Tô, một giáo viên khoa tiếng Việt kiêm dịch giả người Nhật đi sang chợ Bát Tràng để tham quan. Tôi rất vui nhưng lại có một yêu cầu, bà Ka Tô phải ngồi xe máy của tôi, đúng với nghĩa đi chợ làng, chứ cầu kỳ ngồi trên ôtô hay đi taxi sẽ mất hết cái cảnh ngắm sông nước, bãi ngô, hoa cải, vườn chuối, nương dâu trên đường. Ai dè bà Ka Tô đồng ý và còn đề xuất với tôi một yêu cầu là tôi phải dẫn bà vào đúng cái làng cổ Bát Tràng, trên bến sông Hồng xưa để gặp nghệ nhân làm nghề. Tôi bỗng giật mình vì yêu cầu của bà Ka Tô, bởi lẽ ít người quan tâm điều này và chính tôi cũng không để ý lắm đến cái gốc gác làng ấy, cho dù đã đi lại nhiều lần qua nơi đây.

Và thế là chính tôi phải lần mò, đi cùng bà Ka Tô vào những con ngõ đầy rêu và những nấm than còn đắp trên tường gạch của những ngôi nhà cổ nhất trong làng mang cái tên cúng cơm của Bát Tràng xưa. Tôi sững sờ vì những lối ngõ nhỏ, thoắt ẩn, thoắt hiện sâu hun hút trong chiều gió. Đây đó, những mái nhà và những ống khói vuông vẫn còn phảng phất hơi thở của than nóng. Mấy người cùng đi cũng không khỏi ngạc nhiên vì khi rẽ vào các lò gốm đang sản xuất và thấy những sản phẩm bày bán ngay trong nhà của họ mới hấp dẫn làm sao, khác hẳn hàng ngoài chợ. Ở đây, chính những người thợ có thể nói những gì mà họ đang làm cho du khách phải thích thú, như vì sao mà có màu men này, lấy chất liệu bằng cách nào hay cái tích truyện của họa tiết này là từ đâu mà có; thậm chí họ còn lộ hết bí mật về cách pha chế tạo màu như thế nào… Riêng về giá cả thì ở những lò sản xuất này bao giờ cũng là giá gốc, không phải gánh thêm giá thuê cửa hàng và công chuyên chở. Quan hệ khách và chủ trở nên thân thiện vì thế. Chính ở tại lò nung gốm của nghệ nhân trẻ Thế Anh, lần đầu tiên tôi cùng bà Ka Tô nghe câu chuyện vì sao có câu ca dao:

“Ước gì anh lấy được nàng

Để anh mua gạch Bát Tràng về xây...”

Anh còn giải thích tỉ mỉ vì sao gạch Bát Tràng lại có tiếng và đi vào ca dao. Viên gạch ấy như thế nào, hình thù ra sao, được nung thế nào và màu sắc độc đáo của nó. Và vì sao đến nay làng không còn có loại gạch đó nữa…, thậm chí nghệ nhân Thế Anh còn đưa ra một tấm ảnh chụp bức tường rêu phong đọng trên những viên gạch Bát Tràng quê xưa. Những bức tường cao mà chúng tôi vừa nhìn thấy qua cái ngõ hẹp trong làng. Bà giáo viên người Nhật mải miết ghi chép như một học sinh học bài văn hóa Việt.

Vậy đó, bên ngoài các sạp ở chợ bày ngoài làng thì khách chỉ có mỗi việc trả giá rồi đi, thậm chí không ít hàng sứ của nước ngoài trộn vào. Đó là một không khí nguội lạnh thị dân. Nhưng ở trong ngóc ngách của những lò gốm lại là sự sống của sản vật. Đó là tinh thần của con người và đó còn là cái hồn của làng nghề có sức truyền cảm đến những du khách. Phải nói đó là một khía cạnh văn hóa du lịch của một làng nghề chứ không chỉ mỗi việc bày ra chợ là xong. Câu chuyện có lẽ từ đây chăng, nên có ý kiến đề xuất rằng, việc du lịch văn hóa hãy để cho các làng nghề đảm nhiệm, các nhà quản lý hỗ trợ và hợp tác mà thôi.

Sau lần đi ấy, bà Ka Tô viết email cảm ơn tôi về chuyến đi, nhưng ngược lại, tôi cũng thầm cảm ơn bà, bởi chính vì yêu cầu của bà đã làm tôi có cách nhìn với chiều sâu hơn về cái hồn cốt của những cái ấm đất đang bày ở trên giá gỗ mà hàng ngày tôi vẫn ngắm nó. Giờ chúng lung linh hơn, như có hơi thở và bàn tay ấm áp của những người thợ làm ra nó trong ngọn lửa luôn luôn bên cạnh tôi.

Đây có thể coi như một bài học trong những chuyến “phượt” làng nghề bởi lẽ tìm cho ra những điều khuất lấp hay bí ẩn phía sau hoặc lịch sử của một làng nghề quả là cuộc chơi văn hóa rất kỳ thú. Nơi đó, biết bao truyện cổ tích đang chờ đón bạn…

Bài và ảnh:  Vương Tâm

Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Mới hay hồn cốt làng nghề

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐẶT CÂU HỎI & NHẬN TƯ VẤN MIỄN PHÍ TỪ CHUYÊN GIA