“Làng biển” giữa đất Hà Thành

Suckhoedoisong.vn - Hà Nội có một ngôi làng vô cùng đặc biệt. Nó đặc biệt bởi giữa đất Thủ đô, đồng bằng, xa biển nhưng hầu hết người dân trong làng lại đều làm nghề biển. Người ta vẫn thường ví gọi đây là “Làng biển” với nét đặc trưng hơn cả nằm tại Làng lưới cước Trần Phú (xã Minh Cường, huyện Thường Tín).

Sự tích “làng biển”

Dọc theo Quốc lộ 1, với quãng đường dài gần 40km, chúng tôi đã có mặt tại ngôi làng được ví là “làng biển giữa đất Hà Thành”. Làng Trần Phú - xã Minh Cường chạy dài theo con đường quốc lộ 1. Chính với điều kiện thuận lợi về giao thông này mà với bán kính cách làng khoảng 2km, chúng tôi đã nhìn thấy la liệt những cửa hàng bán lưới với đủ màu sắc và hình hài khác nhau.

Theo chỉ dẫn, chúng tôi đến gặp gia đình anh Đinh Ngọc Khuyến. Gia đình anh Khuyến là một trong những hộ sản xuất lưới cước lâu năm nhất của làng. Cũng với câu hỏi thắc mắc như bao người khác về nghề biển của làng, anh Khuyến kể cho chúng tôi về lịch sử của làng nghề đặc biệt này.

Đó là câu chuyện truyền thuyết về Thánh mẫu, người đã mang và truyền lại nghề làm lưới cước cho người dân trong làng. Tục truyền Thánh mẫu là người gốc miền biển Thanh Hóa. Sau khi ra đây lập nghiệp, Mẫu được vua phong làm Tứ phi. Nhưng nhiều năm sống với vua mà không có con nên Mẫu đã xin vua về quê sinh sống. Nhưng thay vì về lại vùng đất Thanh Hóa, Mẫu đã xin vua được ở lại mảnh đất là làng Trần Phú bây giờ để sinh sống nốt quãng đời còn lại.

Nhà vua thấy vậy đã ban cho bà một diện tích đất đai ruộng lớn để bà sinh sống an nhàn tuổi già. Bởi vậy, trước Cách mạng Tháng 8, làng Trần Phú có đất ruộng cách xa làng bây giờ đến chục km. Và ngày trước, làng có tên là Địa Mãn (nó có nghĩa là vùng đất đai thỏa mãn). Vốn dĩ là người miền biển, với tính chịu thương chịu khó, trong quãng đời còn lại sống trên mảnh đất vua ban, Thánh mẫu đã dạy cho người dân nơi đây cách làm lưới để đánh bắt tôm cá mưu sinh. Và từ đó, nghề làm lưới cước tồn tại cho đến ngày hôm nay.

Anh Khuyến chia sẻ: “Ngày nhỏ đã thấy các ông các bà trong làng ai cũng đan lưới. Nhà nhà đan lưới, người người đan lưới. Nên nghề lưới đã ngấm vào tôi lúc nào không hay”. Minh chứng, ngày nhỏ khi mới 5 – 6 tuổi, anh Khuyến đã biết cặp chì, sâu mắt lưới, đan phao. Năm 12 tuổi, anh đã đan được những tấm lưới nhỏ để đánh bắt cá ở ao hồ.

Anh Khuyến cho biết, ngày trước vào thời điểm những năm 1982, 1983, khi nghề đan lưới còn làm hoàn toàn bằng thủ công, thì để hoàn thành được một tấm lưới hoàn chỉnh mất rất nhiều công đoạn và thời gian. Mỗi tấm lưới dù là đơn giản cũng phải cần từ 4 – 5 người đan. Bởi đan lưới có đặc thù là nhiều công đoạn và mỗi người lại chỉ thạo một công đoạn. Bởi vậy, thời điểm đó, tuy nghề làm lưới không mang lại thu nhập cao cho người dân trong làng, và hơn nữa sản phẩm lưới làm ra cũng đơn điệu chỉ phục vụ mục đích duy nhất đó là đánh bắt cá ở sông hồ thế nhưng người dân vẫn duy trì bởi nó tận dụng được thời gian rảnh rỗi của nghề nông.

Tuy vậy anh Khuyến cho biết thêm, do nghề làm vất vả mà thu nhập không cao, tương quan so với những nghề làm thuê khác bắt đầu xuất hiện vào đầu những năm 90 thì kém hơn rất nhiều. Thế nên có những thời điểm nghề đan lưới của làng chững lại, tưởng chừng mai một, vì thu nhập quá thấp không đủ đáp ứng cho cuộc sống của người dân.

Thương hiệu cước Trần

Nét mặt của anh Khuyến hân hoan hẳn lên khi anh đưa cho chúng tôi xem tấm lưới thuộc loại cao cấp anh vừa hoàn thành. Cửa hàng lưới cước Khuyến Hiền là một trong những thương hiệu nổi tiếng trong phạm vi bán kính 100km đổ lại. Hiện nay, gia đình anh Khuyến được biết đến là hộ gia đình chuyên sản xuất lưới cước cao cấp. Những người sống chính bằng nghề đánh bắt cá trên sông hồ, hay thậm trí trên biển, gọi chung là dân chuyên nghiệp trong sử dụng lưới thì đều biết đến gia đình anh. Tấm lưới gần đây nhất anh Khuyến làm có giá lên đến vài chục triệu đồng. Đó là tấm lưới đánh cá trên hồ Đồng Mô mà khách hàng đặt làm ở gia đình anh.

Thời điểm bước ngoặt trong nghề lưới cước, đó là vào năm 1996, 1997, lưới cước bắt đầu được làm bằng máy. Các công đoạn thủ công đã được giảm đi nhiều, chỉ còn tập trung ở những khâu quan trọng. Thêm vào đó, thị trường những năm này cũng có nhiều thay đổi. Nếu ngày trước lưới chỉ chủ yếu sử dụng cho đánh bắt cá thì hiện nay nhu cầu sử dụng đã phong phú hơn rất nhiều. Đó là ngoài lưới đánh bắt cá thì lưới còn được sử dụng để bẫy chim, che hoa, che rau, làm bảo hiểm trong các công trình xây dựng và đặc biệt là lưới chã dùng để nhốt gà tại những khu trang trại lớn,…

Chính nhu cầu sử dụng cao của thị trường đã là yếu tố thúc đẩy nghề lưới cước của làng Trần Phú có những thay đổi vượt bậc. Hiện nay, làng Trần Phú có gần 100 hộ có cửa hàng kinh doanh, xưởng sản xuất lưới với quy mô hàng chục nhân công. Gia đình anh Khuyến hiện nay cũng có tổng cộng hơn 100 người làm thuê. Trong đó, có khoảng 10 thợ giỏi chuyên nghiệp với thu nhập bình quân 150.000 – 200.000 đ/ngày. Còn lại là những người già, người làm ngành nghề khác nhận về làm trong thời gian rảnh rỗi, thu nhập trung bình cũng 50.000 – 70.000 đ/ngày.

Hầu hết những người già của làng Trần Phú và những vùng lân cận đều giữ nghề đan lưới hay tham gia đan lưới thuê cho các hộ kinh doanh trong xã.

Hầu hết những người già của làng Trần Phú và những vùng lân cận đều giữ nghề đan lưới hay tham gia đan lưới thuê cho các hộ kinh doanh trong xã.

Tuy vậy, anh Khuyến cho biết cửa hàng kinh doanh của gia đình anh vẫn là nhỏ lẻ. Anh chỉ cho chúng tôi đến xưởng sản xuất sợi lớn nhất nhì trong làng với công nghệ máy móc hiện đại của gia đình anh Nguyễn Văn Quý - một thanh niên 8x thế nhưng anh đã có cả một cơ ngơi xưởng sản xuất sợi cước lên đến gần chục tỷ đồng.

Theo như người dân trong làng kể lại, vào những năm 1980, sợi cước dùng để đan lưới ở Việt Nam không có. Các cụ trong làng đã phải đặt mua ở Nhật, Singapo,… theo các đường cảng biển nhưng rất khó khăn và số lượng hạn chế. Ngày đó, thiết bị máy móc để sản xuất ra sợi cước này không ai dám nghĩ đến.Vậy mà hiện nay, ngay tại trên địa bàn xã đã có xưởng sản xuất sợi cước hiện đại được đầu tư tiền tỷ. Mỗi tháng bình quân, xưởng của anh Qúy tiêu thụ 90 tấn cước. Xưởng luôn có 9 công nhân túc trực thường xuyên để vận hành 2 máy dệt sợi và 2 máy phun ra cước. Thu nhập bình quân của công nhân trong xưởng là từ 5 – 7 triệu/tháng. Có những tháng chạy việc, thì thu nhập thậm chí lên đến 10 – 12 triệu đồng. Thêm vào đó, gia đình anh còn thuê thêm khoảng 30 hộ chuyên đan lưới thuê.

Anh Quý không quên chia sẻ với chúng tôi về việc anh vừa nhận được đơn đặt hàng của một tổ chức ở Châu Âu về làm lưới nhà sạch, lưới trồng rau công nghệ cao. Tuy nhiên họ chỉ thuê xưởng của anh đan còn sợi là của họ mang sang. Bởi anh Quý cho biết sợi của họ là sợi có trộn lẫn kim loại nhôm và cả thuốc chống côn trùng. Đây là những loại sợi cao cấp mà ở Việt Nam chưa sản xuất được. Anh Quý đã giữ lại một ít để nghiên cứu và hy vọng trong tương lai sẽ sản xuất ra được những loại sợi lưới cao cấp tương tự để phục vụ nhu cầu người tiêu dùng ngày càng như hiện nay.

Hiện nay, lưới cước Trần Phú đã có mặt ở khắp thị trường trong nước và còn xuất sang cả Trung Quốc, Lào, Campuchia,… tạo công ăn việc làm và thu nhập ổn định cho không chỉ 1.500 nhân khẩu của làng mà cả những địa phương khác. Chính sự kiên trì, vượt khó và sáng tạo bắt kịp xu hướng người tiêu dùng, làng lưới cước Trần Phú vừa qua đã được Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội tôn vinh danh hiệu: “Làng nghề truyền thống”.

Vũ Ninh

 

Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết “Làng biển” giữa đất Hà Thành

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐẶT CÂU HỎI & NHẬN TƯ VẤN MIỄN PHÍ TỪ CHUYÊN GIA
ĐỌC NHIỀU NHẤT