Ký ức Thanh Chiêm

Suckhoedoisong.vn - Cách đây hơn 400 năm, Dinh trấn Thanh Chiêm (làng Thanh Chiêm, xã Điện Phương hiện nay) là kinh đô thứ hai ở Đàng Trong (sau Vương phủ Chúa Nguyễn ở Phú Xuân - Huế). Nơi đây trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa lớn và là tiền đồn quân sự mở cõi về phương Nam rất thịnh vượng.

Người ta chỉ còn nhớ vị trí thành xưa chính là trung tâm hành chính của huyện Điện Bàn hiện nay. Chung quanh có hồ sen thơm ngát mỗi độ hè về.

Về dinh thành của con chữ

Dựng dinh trấn Thanh Chiêm vào năm 1602 thể hiện một tầm nhìn dài lâu của chúa Tiên Nguyễn Hoàng. Ngài đã trao trách nhiệm có con trai là Nguyễn Phúc Nguyên vào trấn thủ. Vị trí kinh đô thứ hai này nằm ngay trục quốc lộ và chỉ cách cảng biển Hội An chừng dăm cây số. Nơi đây trở nên sầm uất phồn vinh. Thông qua cảng thị Hội An, tàu bè các nước trên thế giới cập bến buôn bán hàng hóa. Cửa ngõ quốc tế đầu tiên ở phía Nam nước ta đã hình thành từ đây, đồng thời có những sự phát triển không ngờ mà chính nhà Nguyễn chưa hình dung hết. Đó chính là sự du nhập về tôn giáo, văn hóa bên cạnh những hoạt động thương mại, quân sự. Trong thời gian này, những giáo sĩ người Bồ, người Pháp nhập cảnh theo những đoàn tàu thuyền vào từ cảng Hội An. Đây là đoàn quân tiên phong đi truyền đạo ở Việt Nam. Những người này đã có mặt tại trấn Thanh Chiêm vào năm 1625. Họ xây dựng cơ sở đầu tiên ở đây để hoạt động. Ngay bên đường quốc lộ còn tồn tại nhà thờ Thanh Chiêm. Đây là địa chỉ ghi dấu tích cho sự ra đời của chữ Việt mới (Quốc ngữ).

Bia dinh trấn Thanh Chiêm được người dân dựng lên ở thôn Thanh Chiêm 1 (xã Điện Phương).

Bia dinh trấn Thanh Chiêm được người dân dựng lên ở thôn Thanh Chiêm 1 (xã Điện Phương).

Chuyện kể, tại nhà thờ này có một giáo sĩ đã chăm chỉ học nói tiếng bản xứ để giảng bài. Ông không cần thông ngôn qua chữ Nôm như các người khác. Đó là giáo sĩ Francisco de Pina (1585-1625). Có thể nói, ông là người nước ngoài đầu tiên nói thành thạo tiếng Việt. Cha cố Pina đã vận dụng ký tự tiếng Bồ phiên âm tiếng Việt để hóa giải các ngữ điệu rắc rối. Tiếp theo đó, ông còn dùng các ký hiệu dấu để thể hiện rõ hành động và ý nghĩ của người địa phương. Đây là công trình ký tự phiên âm và bộ ngữ pháp tiếng Việt sơ khai đầu tiên của Pina vào năm 1622. Tài thuyết giáo của ông ngày càng trở nên hiệu quả. Sau đó, ông còn mở lớp dạy tiếng Việt cho các nhà truyền giáo khác mỗi khi đến đây. Có thể nói, Fracisco de Pina là người đặt nền móng cho chữ Việt mới ra đời.

Trong số học trò của Pina có giáo sĩ Alexandre de Rhodes (1591-1660). Rhodes đã kế thừa một số bài bản của thầy và một số người khác để phát triển tiếng Việt và truyền đạo ở Đàng Ngoài. Alexandre de Rhodes đã có mặt ở phía Bắc vào năm 1626 (thời kỳ Chúa Trịnh Tráng). 1 năm sau, giáo sĩ cha cố Pina bị tai nạn chết đuối vì gió bão ở ngoài biển Hội An. Alexandre de Rhodes trở thành người kế thừa thành tựu chữ Việt. Ông có năng khiếu đặc biệt và ham học nói tiếng Việt trong thực tế. Ông từng kể chuyện mình đã học nói qua một chú bé chừng 13 tuổi ở Thanh Chiêm trong vòng 3 tuần lễ. Hai người trở thành bạn tâm giao trong sinh hoạt hàng ngày. Vài năm sau, chú bé này trở thành người trợ giảng và mang tên thánh là Rafael Rhodes. Cậu giúp việc cho các cha truyền đạo. Những câu chuyện trong đời sống sinh hoạt của người lao động đã giúp cho Rhodes tổng kết thêm được những cú pháp và giọng nói thuần Việt. Ông đã bị các nhà chức trách bắt giữ, cấm đoán trục xuất tới 6 lần ra khỏi Việt Nam. Tuy nhiên, ông vẫn không ngừng thu thập, biên soạn thêm những tài liệu về chữ viết cho tiếng Việt. Đến năm 1645, Rhodes chính thức bị Chúa Nguyễn vĩnh viễn trục xuất khỏi Việt Nam.

Sự nghiệp tiếng Việt gắn bó với Rhodes như một sứ mệnh thiêng liêng. Ông bỏ công nghiên cứu, cải biến và hoàn chỉnh bộ tự điển đầu tiên: “Việt-Bồ-La” sau 5 năm biên soạn. Cùng với bộ tự điển được xuất bản tại Rom năm 1651, ông còn cho in tập sách dạy tiếng Việt có tên “Bài giảng Tám ngày”. Nó đã trở thành sách “gối đầu giường” cho những nhà truyền giáo nước ngoài sau này được cử vào Việt Nam. Ngôi nhà thờ Thanh Chiêm chính là nơi Alexandre De Rhodes trú ngụ, học tiếng Việt và biên soạn những bài giảng đầu tiên. Những dấu ấn quá khứ vẫn còn đó. Hình ảnh những nhà truyền đạo cặm cụi học những chữ cái theo mẫu tự A-B-C... để xuống cơ sở tiếp xúc với nông dân và thợ thuyền. Nền nhà thờ được giữ nguyên bản hơn trăm năm qua sau những đợt trùng tu. Nó khiêm tốn nhỏ nhoi trong làng Thanh Chiêm nhưng lại là chứng nhân cho sự hình thành chữ quốc ngữ. Đó là sự mở đầu một thời kỳ phát triển văn hóa cho dân tộc Việt Nam.

Chân dung Trương Vĩnh Ký và tờ báo quốc ngữ đầu tiên là Gia Định Báo (1865-1910).

Chân dung Trương Vĩnh Ký và tờ báo quốc ngữ đầu tiên là Gia Định Báo (1865-1910).

Thăng trầm bao nỗi

Mọi người thật khó tưởng tượng: 300 năm sau, bộ sách của Alexandre de Rhodes chỉ được lưu hành nội bộ giữa các nhà truyền đạo phương Tây. Nó chưa được phổ biến rộng rãi trong dân chúng, bởi lẽ vào thế kỷ 18 và 19, ngoài chữ Hán thông dụng, người Việt chỉ dùng chữ Nôm là chính. Tầng lớp trí thức phong kiến coi các mẫu tự La tinh là sản phẩm của ngoại bang Pháp nên tẩy chay. Nhưng sau này, quân đội Pháp ngày một thêm tăng cường áp lực với triều đình nhà Nguyễn. Họ ép dẫn tới quyết định bắt buộc dùng chữ theo phiên âm La tinh thay cho chữ Nho. Từ đó, tất cả các công văn giấy tờ giao dịch ở Nam Kỳ đều dùng ký tự La tinh giao dịch. Năm 1861, chính quyền thực dân cho mở trường dạy tiếng Việt theo ký tự La tinh ở Sài Gòn, đào tạo những thông ngôn người Pháp. Mẫu chữ tiếng Việt do Alexandre de Rhodes biên soạn trở thành chữ Quốc ngữ vào năm 1869.

Nhưng phải tới hơn 10 năm, mọi văn bản giấy tờ hành chính và trong nội các triều Nguyễn mới chấm dứt hẳn việc dùng chữ Nôm (1882). Đặc biệt, đông đảo các nhà báo, nhà văn đã tiếp thu và phát huy chữ Quốc ngữ khá nhanh vì thấy sự tiện lợi của nó. Nhất là các trí thức như cụ Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Trương Vĩnh Tống, Trương Minh Ký, Nguyễn Trọng Quân ra sức phổ cập tiếng Việt (lúc này đã được La tinh hóa). Họ đi đầu trong việc truyền bá chữ Quốc ngữ qua các bài báo và tác phẩm văn chương. Đáng chú ý nhất là tờ báo in chữ Quốc ngữ đầu tiên có tên Gia Định Báo đã sớm xuất hiện từ tháng 4/1865. Tờ báo này được 2 nhà báo nổi tiếng khi đó là Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh phụ trách và tổ chức nội dung. Ngày đó Gia Định Báo phát hành thứ 3 hàng tuần với khổ 25x32, giá bán 0,97 đồng/tờ. Dần dần, các tờ báo khác lần lượt ra đời. Đáng chú ý, tờ nhật báo Trung Bắc Tân Văn được phát hành ở miền Bắc từ đầu năm 1919...

Cũng từ đây, Pháp càng gây áp lực việc dùng chữ Quốc ngữ ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ vào đầu thế kỷ 20. Triều đình Huế đã quá suy yếu nên đành chấp nhận mọi sự áp đặt của thực dân Pháp. Thêm nữa, ngoài Bắc cũng dấy lên phong trào học chữ Quốc ngữ của Đông Kinh Nghĩa Thục (1907). Đây là phương tiện cải tổ chữ viết mới của dân tộc Việt Nam. Trong thâm tâm các nhà học giả, trí thức ngày đó cũng khao khát muốn thoát khỏi những tàn dư nặng nề của phong kiến phương Bắc - một chế độ có những quy ước khắc nghiệt trong thi cử và cổ hủ trong tư duy. Nhưng cũng phải tới năm 1920, chữ Quốc ngữ mới được sử dụng phổ cập trong đời sống, học đường cũng như công văn giấy tờ hành chính nhà nước.

Về lại mái nhà xưa

Trấn Thanh Chiêm đã được tỉnh Quảng Nam quy hoạch tu bổ, phục dựng lại những hình ảnh xưa, lưu dấu một thời kỳ thịnh vượng nơi đây. Việc tìm lại những dấu vết xưa tuy không dễ nhưng các sơ đồ cũ phần nào gợi mở cho các kiến trúc sư. Hơn nữa, Điện Bàn là nôi văn hóa và lịch sử lâu đời bên con sông Thu Bồn. Một khu văn hóa du lịch mới được hình thành quanh làng Thanh Chiêm. Tại địa phương có những làng nghề lâu đời như gốm đỏ và đúc đồng. Những tác phẩm nghệ thuật gốm của lò nghệ nhân ưu tú Lê Đức Hạ đậm đặc hơi thở  Chăm truyền thống.

Đặc biệt, trấn Thanh Chiêm còn có làng nghề đúc đồng của xã Phước Kiều. Có thể nói, nơi đây phát tích ban đầu được hình thành từ lò đúc vũ khí của vương triều Chúa Nguyễn. Hiện nay, phố hàng đồng buôn bán sầm uất với các thương hiệu nghệ nhân nổi tiếng họ Dương. Nơi đây cung cấp hàng cho toàn bộ thị trường miền Trung và Tây Nguyên. Cùng với di sản Hội An và Thánh địa Mỹ Sơn, việc phục dựng khu trấn Thanh Chiêm và công viên cồng chiêng sẽ tạo nên tam giác Du lịch vàng Quảng Nam - một sắc màu văn hóa độc đáo được ấp ủ bởi những câu hò điệu lý ngọt ngào bên sông Thu Bồn.

Bài và ảnh: Lưu Kường

Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Ký ức Thanh Chiêm

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com