Hiệu quả từ điều trị ung thư vú bằng phẫu thuật Patey cải tiến

Suckhoedoisong.vn - Từ 10/2010 đến 3/2014, Bệnh viện Đa Khoa Tỉnh Thái Bình, đã thực hiện phẫu thuật Patey cải tiến bệnh Ung thư vú trên 24 bệnh nhân, cho thấy, độ tuổi mắc bệnh chủ yếu gặp ở lứa tuổi từ 40 - 60, chiếm 70,8%, dưới 20 tuổi không gặp trường hợp nào.

Ung thư vú gánh nặng xã hội

TS. Phan Thanh Lương – Trưởng khoa ngoại, Bệnh viện Đại học y Thái Bình cho biết, bệnh ung thư vú là bệnh rất phổ biến được xếp hàng thứ nhất trong các loại ung thư ở phụ nữ, đồng thời cũng là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu do bệnh ác tính ở phụ nữ trên phạm vi toàn thế giới: “ Kết quả thống  kê mới nhất cho thấy khoảng 1.050.000 trường hợp mới mắc trên phạm vi toàn thế giới hàng năm, với gần 580.000 trường hợp xảy ra ở các nước phát triển và phần còn lại ở các nước đang phát triển. Năm 1998, có 412.000 trường hợp tử vong do ung thư vú ở phụ nữ trên thế giới, chiếm 1,6% tử vong chung ở phụ nữ. Tính trên trị số tuyệt đối, sự phân bố lớn nhất là ở các nước đang phát triển có đến 250.000 trường hợp so sánh với các nước phát triển con số đó là 160.000. Tuy nhiên tỷ lệ tử vong ở các nước phát triển, tính ra là 2%, vẫn còn cao hơn nhiều so với tỷ lệ tử vong do ung thư vú ở các nước đang phát triển là 0,5%”, ung thư vú ở nam giới tỷ lệ ít hơn nhiều so với nữ giới”. TS. Phan Thanh Lương cho hay.

Kết quả nghiên cứu còn cho thấy, ở Mỹ năm 1998 có hơn 180.000 trường hợp mới mắc và 40.000 phụ nữ chết vì căn bệnh này, đến năm 2003 có 211.300 trường hợp mới, tử vong 39.800 trường hợp. Hà Lan là trường hợp minh hoạ cho xuất độ ung thư vú cao trong những nước phát triển với tỷ lệ mắc chuẩn tuổi (ASR) 91,6/100000 mới mắc hàng năm, nhưng có một vài sắc dân, như phụ nữ da trắng ở California có tỷ lệ mắc theo tuổi lên đến 100 hoặc hơn nữa. Nhìn chung, tần suất mắc ung thư vú ở Hoa Kỳ  trung bình khoảng 91,4/100000. Xuất độ cao như thế cũng được thấy ở Âu Châu, Úc và Tân Tây Lan cũng như ở một số quốc gia Nam Mỹ đặc biệt ở Uruguay và Argentina. Ngược lại, xuất độ ung thư vú thấp hơn ở dân tộc Châu Phi và Châu Á.

Trong giai đoạn từ 1975 đến 1990, những gia tăng cao nhất về xuất độ ung thư vú, lớn hơn 1% và đôi khi 5% mỗi năm đã được phát hiện ở những nơi vốn trước đây xuất độ ung thư vú rất thấp, hầu hết là ở Châu Á và Châu Phi cũng như ở một vài vùng ở Châu Âu. Ngược lại, những gia tăng thấp nhất thường dưới 0,5% mỗi năm, thường thấy ở những nơi trước đây có suất độ cao, nhất là Bắc Mỹ và Châu Âu. Những thay đổi này đặc biệt rõ ràng về mối liên quan với bệnh tật ở những người trẻ dưới 45 tuổi. Tuy nhiên tỷ lệ tử vong của ung thư vú có chiều hướng giảm thiểu có thể là do những phương thức điều trị ngày một tốt hơn.

Tại Việt Nam theo ghi nhận ung thư ở Hà Nội năm 1998, tỷ lệ mắc ung thư vú chuẩn theo tuổi là 20,3/100.000 dân, đến năm 2003 xuất độ này lên đến 33,7/100.000, đứng đầu trong các ung thư ở phụ nữ. Tại thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ này là 19/100.000 dân, gần đây nhất đã được xếp loại ung thư đứng đầu trong 10 loại ung thư thường gặp nhất ở nữ. Cần Thơ, kết quả ghi nhận ung thư quần thể lần đầu tiên 2001 - 2004 cho thấy ung thư vú là 19/100.000 xếp hàng thứ hai sau ung thư cổ tử cung.

 

Ung thư vú chủ yếu gặp ở lứa tuổi từ 40 - 60

Cũng theo TS. Phan Thanh Lương, những con số trên chỉ ra tần suất ung thư vú có chiều hướng tăng cũng là báo động cho gánh nặng xã hội rất lớn, nhưng nhờ vào những tiến bộ khoa học khoảng 30 năm qua về sự hiểu biết căn bệnh này: Các yếu tố nguy cơ, yếu tố tiên lượng, sinh học ung thư đã được phân định rõ hơn. Các nhà khoa học xác định được những bất thường về di truyền phân tử liên hệ đến sự phát triển ung thư vú, liên hệ đến sự di căn và sự đáp ứng của điều trị. Từ những hiệu quả của việc chẩn đoán và khả năng xử lý cơ bản được cải thiện, ở các nước có nền y học hiện đại, bệnh ung thư vú được phát hiện ở giai đoạn sớm khi chưa có xâm lấn đưa đến nguy cơ, tỷ lệ tử vong giảm khoảng 30%, phần lớn ung thư vú được điều trị phẫu thuật bảo tồn vú cho kết quả rất tốt. Ung thư vú là một vấn đề sức khoẻ lớn tại các quốc gia phát triển và đang nhanh chóng trở thành vấn đề quan trọng ở các nước đang phát triển. Ung thư vú được coi là một trong những căn bệnh rất phức tạp mà trong những năm qua được nghiên cứu rất nhiều về nguyên nhân, sinh học và điều trị. Hiện nay điều trị ung thư vú chủ yếu bằng phẫu thuật Patey cải tiến kết hợp với điều trị xạ trị, hóa trị liệu hay sinh học được áp dụng bước đầu đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ.

Từ 10/2010 đến 3/2014, Bệnh viện Đa Khoa Tỉnh Thái Bình, đã thực hiện phẫu thuật Patey cải tiến bệnh Ung thư vú trên 24 bệnh nhân, cho thấy, độ tuổi mắc bệnh chủ yếu gặp ở lứa tuổi từ 40 - 60, chiếm 70,8%, dưới 20 tuổi không gặp trường hợp nào, nhỏ tuổi nhất là 38 tuổi, lớn nhất 80 tuổi. U ở vị trí vú trái gặp nhiều hơn vú bên phải, chiếm tỷ lệ 70,8%. U vú chủ yếu gặp vị trí ¼ trên ngoài chiếm 70,8%, sau đó đến ¼ trên trong và dưới ngoài cùng chiếm tỷ lệ 12,5%. 29,2% u được phát hiện sớm với kích thước nhỏ dưới 2cm, 70,8% u có kích thước 2 - 5 cm, không gặp trường hợp nào u trên 5 cm. 100% siêu âm đều thấy u vú, trong đó 95,8%. Kết quả chẩn đoán phù hợp (u đặc), 4,2% trường hợp là âm tính giả (u nang), 83,3% là ung thư biểu mô tuyến vú xâm nhập, 16,7% là ung thư biểu mô tiểu thùy tuyến vú xâm nhập.

Tỷ lệ bệnh nhân phẫu thuật Patey ở giai đoạn II là 62,5%, giai đoạn III là 37,5%. Tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ là 12,5%. tỷ lệ dẫn lưu của bệnh nhân được rút ngày thứ 3 là 87,4%, rút ngày thứ 4 là 8,4%  và trên 4 ngày là 4,2%. Số bệnh nhân nằm viện  6 - 10 ngày là 25%, từ 11-15 ngày là 54,2%, trên 15 ngày là 20,8%. Kết quả sớm sau mổ, tỷ lệ bệnh nhân phẫu thuật đạt loại tốt là 87,4%, đạt loại khá là 12,6%. Kết quả này cho thấy, Ung thư vú có thể chẩn đoán chính xác qua siêu âm, X-quang, chọc hút tế bào bằng kim nhỏ. Điều trị ung thư vú bằng phẫu thuật Patey cải tiến mang lại hiệu quả cao, giảm gánh nặng cho xã hội.

Trịnh Xuân Dương - Khoa ngoại Đại học Y - Dược Thái Bình

Loading...
Bình luận

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐỌC NHIỀU NHẤT