DÒNG SỰ KIỆN

Đường dây nóng:

1900 90 95 duongdaynongyte@gmail.com
0901727659 bandientuskds@gmail.com
Hiểm nguy nghề đẩy bè luồng trên sông Mã
07:00 29/03/2015 GMT+7
Suckhoedoisong.vn - Sông Mã đã đi vào thơ ca, nhạc họa bởi vẻ đẹp của nó. Nhưng sông Mã cũng nổi tiếng hung dữ và hơn thế...

Sông Mã đã đi vào thơ ca, nhạc họa bởi vẻ đẹp của nó. Nhưng sông Mã cũng nổi tiếng hung dữ và hơn thế, trên khúc sông dài chảy qua địa phận tỉnh Thanh Hóa khoảng 330km còn có nghề đẩy bè luồng. Vất vả, gian nan và hiểm nguy rình rập, song người dân vẫn bám nghề.

Thủ phủ cây luồng

Điểm đầu sông Mã chảy vào địa phận tỉnh Thanh Hóa là cửa khẩu Tén Tằn (huyện Mường Lát). Sông Mã, theo người địa phương là do nước chảy như ngựa phi nên đặt là “Mã” để nói về sự nguy hiểm của dòng sông nổi tiếng lắm thác, nhiều ghềnh. Từ đó, sông uốn lượn gập ghềnh qua những vệt thung lũng. Bên trên là núi cao ngút ngàn. Miền Tây Thanh Hóa cũng là thủ phủ của cây luồng (họ nhà tre, thân thẳng). Từ vực sâu cho đến những sườn núi cao, cây luồng ở nơi đây tròn trịa, thẳng tắp. Do địa hình chia cắt nên việc vận chuyển cây luồng bằng đường bộ vô cùng khó khăn. Bao đời qua, người dân đã biết dùng sông Mã, với sức đẩy của dòng nước như ngựa phi để vận chuyển. Cũng từ đó sinh ra nghề đẩy bè, buôn luồng, tạo ra những “kỳ nhân” chinh phục dòng nước dữ rất cự phách. Họ thậm chí còn đi xa hơn, đến tận các huyện miền tây của tỉnh là Bá Thước, Quan Hóa để buôn luồng.

Luồng được tập kết, chuẩn bị về xuôi.

Tôi may mắn được những người dân chài cho quá giang từ thị trấn Mường Lát bằng bè luồng. Đúng những ngày nước cạn, dòng sông lững lờ trôi. Xa xa, những bản làng người dân sinh sống đôi bờ sông mộc mạc, đơn sơ. Trên chiếc bè cứ chầm chậm trôi theo dòng nước, khung cảnh thanh bình hiện lên. Người dân thong thả kéo vó, cất lưới. Những mái nhà đơn sơ lên khói. Điểm dừng đầu tiên của chúng tôi là Mường Luân nơi thượng nguồn sông Mã, mảnh đất sinh sống chủ yếu của những công dân người Việt gốc Lào cùng chung sống với các dân tộc Thái, Khơ Mú. Người dân bản tiếp khách bằng món xôi nếp Lào, thịt lợn bản... Những món ăn giản dị nhưng rất ấn tượng, chẳng cao lương mỹ vị nào bằng.

Trên bè, người đàn ông tên Nguổi kể cho nghe biết bao chuyện lạ trên dòng sông. Nào là những trận đi săn cá sông, những lần cứu bè thoát khỏi lũ dữ, những chuyện đồn đoán ma quỷ. Rồi cả những khúc cua, những đoạn thác ghềnh thử thách độ dũng cảm của người dân. Anh Nguổi kể, khi những cây luồng đến tuổi trưởng thành sẽ được chặt rồi thả theo sườn núi xuống bờ sông. Những người thu mua sẽ gom luồng, kéo luồng xuống sông rồi ghép lại thành những bè lớn. Việc thu gom có thể kéo dài từ 2 - 4 tuần, cho đến khi đủ số lượng. Mỗi bè luồng thường đạt đến con số 700 đến 2.000 cây. Qua thị trấn Mường Lát vài cây số, nước sông sâu hơn. Những bè luồng này sẽ được đẩy xuôi theo dòng chảy đến các công ty chế biến, hoặc tiếp tục được chia ra để bán lẻ cho người miền xuôi.

Kình ngư sông Mã

Tôi đi tìm những “kình ngư” trên sông và những người lái bè luồng cự phách. Thật không dễ để tìm được họ, bởi họ sống nay đây mai đó, khi tìm được, tâm sự thì được họ cho biết rất nhiều người có tài lái bè luồng. Họ vượt thác, băng ghềnh như cơm bữa, dẫu thi thoảng theo từng năm, có những người bị thần sông cướp đi. Song không vì thế mà cuộc sống thôi tiếp diễn và người dân từ bỏ nghề. Họ vẫn đi, vẫn chinh phục và từng ngày, từng giờ đúc rút kinh nghiệm.

Anh Hà Văn Bích dùng thuyền để ra bè giữa sông.

Thật may, tại khu vực bản Tài Chánh, xã Mường Lý (huyện Mường Lát), chúng tôi gặp ông Hà Văn Nhưng, 68 tuổi, có thâm niên 50 đi bè luồng và săn cá lăng. Nay tuổi đã cao, nhưng sức vóc, dáng vẻ ông Nhưng còn cường tráng. Ông vẫn nhận “ủy thác” của một số bà con trong bản đưa bè xuống xuôi sông, đến khu vực xã Trung Sơn của huyện Quan Hóa thì có ô tô đón luồng. “Cả ba thằng con trai tôi đều giỏi sông nước. Để giỏi được thì từ bé đã phải ngã xuống nước, uống no nước sông rồi. Người chết trên sông, tôi có nghe nói, nhưng ở bản tôi thì không. Dường như ai cũng biết cách để chinh phục dòng nước”, ông Nhưng tâm sự.

Tôi hỏi: “Nhìn những bè luồng vượt thác, cháu thấy rất nguy hiểm. Tại sao người dân không lựa lúc nước yên rồi vượt?”. Ông Nhưng giải thích: “Người dân coi hiểm nguy là bạn. Nó là cuộc sống, là máu và nước mắt, là cuộc mưu sinh. Vả lại, không làm nghề này thì chẳng biết làm nghề gì khác nữa đâu”.

Ông Nhưng giới thiệu cho tôi anh Hà Văn Phải, con trai ông. Anh Phải có dáng nhỏ nhắn nhưng chắc, đen giòn, là người được cha tôi luyện mãi trên môi trường sông nước. Song, do thời trẻ, chủ quan đã mấy lần bị tai nạn. Năm 1990, dù được bố cảnh báo về trận bão, nhưng anh Phải vẫn đi sông. Anh bị hất xuống sông. Bà con đi tìm ba ngày không thấy, nghĩ là con đã chết. Một tuần sau, anh Phải được người dân bản Xước, cách đó gần hai chục cây số đưa về, với nhiều vết thương trên người. Anh Phải kể: “Tôi bị nước cuốn trôi, rồi bị mắc vào bụi cây, ngất đi. May mà được người dân đi chài lưới phát hiện cứu giúp không thì ra ma từ lâu rồi”. Sau tai nạn đó, ông Nhưng quyết “đào tạo lại” cho các con để có thêm kỹ năng vượt thác, vượt ghềnh. Ba người con, ba chàng trai trẻ ra sức học thêm kỹ năng đưa bè ngược sông, vượt thác. Mỗi người phải trả giá bằng cả chục lần bị văng xuống sông. Sau cùng, họ đã thành công. Giờ, với bè luồng, họ có thể đưa ngược dòng nước siết hay đoạn thác của sông một cách ngoạn mục mà người bình thường không thể tin nổi.

Để thay đổi cảm giác, anh Hà Văn Bích, con trai thứ ông Nhưng, “tiếp đón” tôi vượt một đoạn ghềnh. Khi mấy người đã đứng hẳn lên bè, anh nói như quát vào tai: “Vững tim nhé, cảm giác sẽ rất mạnh đấy!”. Bè được thả trôi. Anh Bích, anh Lỉnh cầm cây sào cứng. Đang êm, thoải mái ngắm non nước mây trời thì đầu chiếc bè va vào đá. Người ngã chúi về phía trước. Anh Bích nói: “Chưa là gì, phải qua đoạn ghềnh Cởm kia”.

Nước xối xả réo, bọt tung trắng xóa. Chúng tôi ngồi xuống, tay níu chặt vào dây mây nêm chặt vào bè để khỏi văng. Dòng sông như bỗng trở nên rộng hơn, hung dữ như nuốt chửng chúng tôi. Nước tát vào mặt. Bè lảo đảo. Anh Bích, anh Lỉnh ra sức chỉnh dòng. Sang trái, lao sang phải. Kìa, lại một đợt nước xối xả tát vào mặt. Người ngợm chúng tôi ướt cả. Khuôn mặt ai nấy đều căng thẳng, tay níu chặt. Anh Bích tiếp tục hét to: “Cứ yên tâm nhớ chuyến nhớ đời này”.

Vâng, tôi sẽ nhớ mãi chuyến đi này. Lòng nhủ lòng vậy. Đúng lúc ấy chiếc bè bỗng lao vun vút. Tôi thấy người choáng váng và sợ hãi. Anh Bích, anh Lỉnh cũng cúi thấp người. Nước đẩy chúng tôi đi mỗi lúc một nhanh, và khi tôi hoàn hồn cũng là lúc bè đi chậm hơn, chúng tôi đã vượt xa con ghềnh hàng trăm mét. Anh Lỉnh bảo: “Vượt thành công rồi”. Tất cả cùng hò reo, vang cả một khúc sông, khoảnh rừng. Tôi thấy, mình vừa trải qua một thử thách, thử thách lớn, như một khúc bi tráng trong dòng chảy cuộc đời mà tôi không bao giờ quên.

Sông Mã hung dữ đã nuốt biết bao người xấu số vào lòng nó. Sông cũng tàn phá biết bao bè luồng khi không đủ độ chặt, hoặc thác nước đẩy bè va quệt vào vách đá, làm tan bè. Hiểm nguy rình rập như thế, song con người nơi đây đã ăn đời ở kiếp. Họ chọn cách đối mặt, để sống, làm việc và từng ngày lại nghĩ ra nhiều cách chinh phục dòng sông.

Bài, ảnh: Anh Khoa

 

 

Tin liên quan
Tin chân bài
Bình luận
TIN CÙNG CHUYÊN MỤC
Xem thêm