Fallko Hennig

Suckhoedoisong.vn - Fallko Hennig là nhà văn trẻ rất nổi tiếng của Đức. Tôi biết được anh cũng là nhờ sự chỉ dẫn của dân “thổ công”.

Trước khi tôi thăm Đức, ông Tham tán Văn hóa ở Đại sứ quán Đức có hỏi nguyện vọng, xem tôi muốn thăm những đâu, để bạn giúp đỡ. Thực tình, tôi muốn gặp một nhà văn trẻ của Đức, muốn biết hiện nay, họ sống và viết ra sao? Họ quan tâm đến những vấn đề gì. Sở dĩ tôi muốn tìm đến các nhà văn trẻ, vì họ chính là văn học Đức tương lai. Còn những thành tựu của văn học Đức trong quá khứ thì ít nhiều, chúng ta đều đã biết rồi.

Fallko Hennig ( Bút danh F. Hennig) - nhà văn nổi tiếng của Đức, sinh tại Berlin năm 1969.

Fallko Hennig ( Bút danh F. Hennig) - nhà văn nổi tiếng của Đức, sinh tại Berlin năm 1969.

Ba ngày sau, chị Vũ Hương Giang, cô con gái rượu xinh đẹp của nhà văn Vũ Tú Nam, làm ở Đại sứ quán Đức có chuyển cho tôi bản chương trình làm việc trong những ngày ở nước Đức. Trong chương trình, có cuộc gặp gỡ với Fallko Hennig, một nhà văn trẻ, hiện đang được bạn đọc Đức yêu mến.

Người phiên dịch cho tôi là Frang Gerke, một giáo sư người Đức rất giỏi tiếng Việt. Anh từng sống và làm việc nhiều năm ở Việt Nam. F. Gerke dẫn tôi đến một con hẻm nhỏ, lách qua hai hàng xe đỗ xít nhau. Trời vẫn còn sớm lắm. Ánh nắng vàng rực rọi trên những bức tường lở lói, loang lổ, bốc lên mùi ẩm mốc và hôi hám. Đây là khu phố của những người rất nghèo. F. Gerke bắt đầu ngờ vực:

- Địa chỉ thì đúng đây rồi. Nhưng xem ra thì hình như không phải. Chẳng có tòa báo nào ở chỗ này cả. Đây chỉ đơn thuần là một khu dân cư...

- Đúng rồi! Tôi ở đây! Ở trên này cơ mà!

Có tiếng nói khàn khàn. Tôi ngẩng lên. Trên tầng 5, sau ô cửa sổ vừa bật mở là một cái đầu trọc lóc. Một người đàn ông còn rất trẻ. Trông anh ta như một con chim cánh cụt đang thập thò ở cửa chuồng...

- Lên đây! Lên trên này!

Nói vậy, nhưng anh chàng lại nhào xuống chân cầu thang đón chúng tôi. Mái đầu cạo trọc. Quần áo xộc xệch. Trông anh có dáng vóc của một ông thợ quét vôi.

- Tôi là Fallko Hennig! - Anh chàng tự trỏ ngón tay cái vào ngực mình - Tôi chờ các anh đã mấy hôm nay rồi. Bữa nay, tôi định tiếp các anh ở tòa soạn báo. Nhưng rồi nghĩ, thôi, tốt nhất cứ mời các anh đến nhà, để các anh hiểu thực chất đời sống của chúng tôi!

F. Hennig nói bằng một giọng khàn khàn. Khu nhà không có thang máy. Chúng tôi bám theo anh, bước qua những bậc cầu thang mòn vẹt, chua loét mùi cứt mèo.

- Đây là nhà riêng của anh sao?

Tôi hỏi với sự ngạc nhiên. F. Hennig lắc đầu:

- Không, gia đình tôi ở Berlin. Tôi có một vợ, hai con. Vợ tôi bỏ đi rồi. Còn hai cháu nhỏ ở với ông bà nội. Căn hộ này có ba buồng. Tôi thuê một buồng. Còn hai buồng bên là của người khác. Một anh bốc vác. Còn một anh làm nghề giặt là.

Căn phòng nhỏ, bề bộn những sách. Sách xếp trong giá. Sách gác trên đầu. Sách vứt ngổn ngang dưới chân. Căn phòng bề bộn như một kho chứa đồ. F. Hennig gài cái máy vi tính cá nhân lên nóc tủ tài liệu, dành ghế cho khách.

- Anh ngồi đi! Ngồi bất cứ chỗ nào có thể ngồi được. Bây giờ tôi mới được đón anh, còn văn chương các anh đến với tôi từ rất lâu rồi. Đấy anh xem đấy, trong nhà tôi toàn văn học phương Đông. Tôi rất mê các nhà văn Trung Quốc. Đặc biệt là Lỗ Tấn. Mặc dù ông ta thuộc hạng cổ hủ. Văn hiện đại là thứ văn chỉ đọc một lần. Đọc xong rồi vứt. Nhưng văn Lỗ Tấn lại là cái thứ văn lây nhây, không thể đọc một lần mà xong được. Càng đọc, càng thấy hình như mình vẫn chưa đọc gì cả...

- Thế là anh hiểu Lỗ Tấn đấy!

- Không, tôi không hiểu gì Lỗ Tấn cả. Nếu hiểu được rồi thì tôi đã không đọc ông ta nữa. - F. Hennig vừa nói, vừa lúi húi pha trà - Lỗ Tấn là một lão phù thủy. Ông ta vừa đi vừa phun sương mù. Chính sương mù đã tạo nên sức hấp dẫn của ông ấy. Đọc Lỗ Tấn, tôi luôn có cảm giác như mình đang đi trong sương. Phía trước cứ lờ mờ một cái gì đấy. Thế là mình cứ bám riết, cứ đuổi theo. Đuổi mê mải. Khi ra khỏi màn sương, mới hay là nó cũng chẳng có gì ghê gớm cả. Lỗ Tấn rất giỏi tạo ảo giác...

- Anh hiện đang viết gì?

- Tôi đang viết một cuốn tiểu thuyết về giao thông đô thị. Cái khó nhất của tôi trong cuốn sách này là phải viết làm sao cho khác cuốn trước...

- Cuốn trước anh viết về cái gì?

- Về chuyện đi ăn trộm.

- Cái gì?

- Ăn trộm. Anh cảm thấy lạ sao?  - F. Hennig nheo nheo một bên mắt - Cuốn tiểu thuyết có tên Cái gì cũng ăn cắp cả. Cuốn sách đã được tái bản rất nhiều lần. Gần đây, người ta còn dịch ra tiếng Anh. Bản tiếng Anh, cái tên có khác một chút, nhưng tinh thần thì không khác: “Tất cả đều là kẻ cắp”.

Heinrich Henig nhấp một ngụm trà:

- Gọi tiểu thuyết, nhưng thực tình, đây là cuốn tự truyện của tôi. Cuốn sách có 64 chương. Tôi thuật lại 64 vụ ăn trộm của mình...

-  Hóa ra anh cũng là người thích đùa...

- Không, tôi không đùa. Tôi là một kẻ trộm. Anh không tin sao? Thuở bé, tôi chuyên đi ăn cắp. Ăn cắp không chỉ một lần, mà 64 lần. Chỉ trừ nhà băng là tôi chưa bẻ khóa...

Tôi cứ ngỡ như mình nghe nhầm. F. Hennig tỏ ra rất khoái chí:

- Tất nhiên, tôi không sống bằng nghề ăn cắp. Nghĩa là tôi không phải kẻ cắp chuyên nghiệp. Tôi chỉ muốn thể hiện mình. Rồi cũng qua đó, muốn biết luật pháp của nước Đức ra sao? Công an Đức có thực giỏi không. Tóm lại là họ cũng rất xoàng. Bằng cớ là tôi chưa bao giờ bị bắt...

F. Hennig cười sảng khoái. Cứ như lời F. Gerke, người đã đọc cuốn sách, thì những chuyện ăn cắp mà F. Hennig kể trong cuốn tiểu thuyết của mình cũng chỉ là những phi vụ vặt vãnh, trẻ con. Chính vì thế mà nó nằm ngoài sự quan tâm của công an Đức. Chỉ có điều, H. Henig viết rất hấp dẫn, hài hước. Mỗi chương một chuyện. Có chuyện hoàn toàn độc lập, có thể tách ra thành một tác phẩm riêng. Vì thế, cấu trúc cuốn sách khá độc đáo. Đằng sau những câu chuyện tưởng như vặt vãnh, trẻ con, người đọc lại thấy hiện lên cả một xã hội phức tạp với đầy đủ những dáng vẻ của nó...

- Trong cuốn sách này, có một đoạn tôi nói về Việt Nam đấy. Truyện hoàn toàn có thật. Một anh dũng sĩ Việt Nam sang thăm Đức. Anh đến trường Trung học của tôi nói chuyện diệt Mỹ. Khi kết thúc buổi diễn thuyết, anh có tặng lại trường một món quà. Đó là hai quả... lựu đạn. Hai quả lựu đạn này được đặt trong phòng truyền thống của trường. Bọn trẻ con kéo đến xem đông lắm. Thế là tôi cuỗm luôn hai quả lựu đạn, làm một triển lãm riêng. Nhưng khốn nỗi, hai quả lựu đạn rời khỏi phòng truyền thống thì nó không còn là lựu đạn nữa. Tôi cứ cố chứng minh nó chính là lựu đạn của Việt Nam đã từng đánh thắng Mỹ, nhưng chẳng ai tin. Người ta cứ bảo nó là cục sắt rỉ...

Tôi bắt đầu thấy ngờ vực. Chả lẽ một cuốn sách chỉ ghi những chuyện như thế mà lại được bạn đọc Đức thích ư?

- Người Đức không dễ lừa đâu, anh Khoa ạ - F. Gerke quay sang tôi - Cuốn sách thật sự cuốn hút. Nó kể toàn những chuyện lặt vặt. Nhưng cuốn sách thì lại chẳng lặt vặt chút nào.

- Vậy thì qua cuốn sách này, anh muốn nói điều gì với độc giả?

- Nói gì à? Khó nhỉ. Mà tại sao văn chương lại cứ phải nói một cái gì đấy? Nếu tôi chẳng muốn nói gì cả thì sao? Tôi nghĩ, trên đời này chẳng có ai là người lương thiện. Chỉ có những kẻ bị bắt và chưa bị bắt. Thế thôi. Nói thực với anh, tôi nhìn đâu cũng thấy kẻ cắp. Kẻ cắp nhiều lắm. Nhan nhản khắp hành tinh này. Ăn cắp ngay từ khi mới nứt mắt. Đơn giản như đi học thì cóp bài chẳng hạn. Rồi lớn lên, có anh leo được tới ghế cao, nhưng vẫn không chịu bỏ nghề truyền thống. Nhiều khi lại dùng ngay chính quyền lực để vơ vét của dân. Có người ăn cắp mà không biết mình ăn cắp. Thế nên cứ rao giảng đạo đức ra rả. Rồi quốc gia này ăn cắp của quốc gia kia. Ăn cắp thương hiệu. Ăn cắp công nghệ. Ăn cắp thông tin. Ăn cắp cả một mô hình xã hội. Sống bằng những giá trị không phải thực của mình. Điều ấy mới thật bi thảm...

Hennig cười. Tôi cũng cười. Không ngờ chàng trai vẫn còn rất trẻ này lại có cái nhìn cực đoan đến thế. Đành rằng cái ác rất nhiều, nhưng trái đất này tồn tại được chính là nhờ những người lương thiện, chứ đâu phải kẻ bất nhân. Người lương thiện cũng nhiều lắm, ở đâu cũng có. Tôi kể cho H. Henig nghe một chuyện mà chính tôi được chứng kiến ở nước Đức này. Tôi gọi đó là chuyện cổ tích. Nước Đức có nhiều chuyện cổ tích lắm. Chả thế ở xứ này có anh em Grim chỉ đi chép những câu chuyện cổ tích ở dọc đường mà rồi trở thành những nhà văn nổi tiếng thế giới.

Câu chuyện cổ tích này, tôi, Grim chưa kịp chép. Tôi đi từ Weima về Berlin. Trên cả tuyến đường sắt chỉ có tôi và F. Gerke. Vậy mà cơ man nào là tàu. Cứ vài phút lại một chuyến tàu vun vút lao qua. Tôi rất kinh ngạc vì tàu chạy rất đúng giờ, chuẩn xác đến từng tích tắc. Cứ như vé ghi thì chuyến tàu của tôi khởi hành lúc 9 giờ 10 phút. 9 giờ 8 phút, tôi xách vali định nhảy lên tàu thì Frank Gerke vội kéo giật lại. Đó là con tàu đi thành phố khác. 9 giờ 9 phút vẫn chưa thấy con tàu của tôi. Còn đúng nửa phút nữa đến giờ khởi hành thì con tàu tôi chờ đợi mới đến. Nó chỉ dừng ở ga đúng 30 giây. Tôi vội vàng tất tả chạy lên tàu, vừa lúc cửa khép và con tàu lao như bay trên mặt đất. Đến gần Berlin, tôi mới biết mình đã đánh rơi mất cái túi nhỏ. Trong túi có 1.000 dollar. Số tiền không lớn, chỉ tiếc trong túi còn hơn chục cuộn phim tôi chụp dọc đường và hàng loạt cuốn băng cassette tôi ghi những cuộc tiếp xúc trong suốt cả chuyến đi. Chúng tôi đang bối rối, thì một anh chàng to béo, mặt đỏ như gà chọi chạy đến tìm tôi: “Xin lỗi, có phải ông mất cái túi da không?”. Tôi kinh ngạc: “Vâng, có lẽ tôi đã đánh rơi”. “Không phải ông đánh rơi. Ông bỏ quên trên ghế đợi tàu. Hiện nhà ga đã cất vào kho rồi. Ông có thể về Weima nhận lại được không?”. “Rất tiếc, tôi không còn trở lại Weima được nữa”. “Vậy thì ông có thể nhận lại ở Berlin. Chúng tôi sẽ chuyển cho ông ngay trong chuyến tàu sau. Phiền ông đúng 17 giờ có mặt ở ga Berlin để nhận. Tàu chúng tôi chỉ dừng một phút, xin ông đến thật đúng giờ”.

- Chuyện ấy thì có gì lạ? - Fallko Hennig nhếch mép cười - Cái túi anh vứt trên ghế. Người ta tưởng anh là kẻ khủng bố nên đã báo động. Công an đến dò mìn và thế là anh không mất tiền. Đơn giản thế thôi.

F. Hennig khẽ thở dài:

- Người Đức chúng tôi  không lương thiện như anh nghĩ đâu. Mà làm gì có người lương thiện. Ngay cả anh nữa, anh có dám chắc với tôi rằng, anh là một kẻ lương thiện không? - H. Henig vè vè nhìn tôi - Anh là nhà văn. Anh sống bằng nghề văn. Cốt truyện anh lấy từ đời sống. Rõ ràng đấy là những chuyện của người khác. Cái vui nỗi buồn cũng của người khác. Anh biến thành tác phẩm của anh. Rồi anh thành người nổi tiếng. Anh có tiền nhuận bút đút túi. Thế thì rõ ràng anh cũng là một kẻ cắp. Cũng như tôi, như nhiều nhà văn khác, chúng ta đều là kẻ cắp cả. Chỉ có điều, đấy là những kẻ cắp không bị ra tòa...

Nhà thơ Trần Đăng Khoa

Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Fallko Hennig

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com