Dùng thuốc trong tiêu chảy không nhiễm khuẩn

Trong tiêu chảy không nhiễm khuẩn không dùng kháng sinh, đặc biệt là không dùng kháng sinh kéo dài vì sẽ không làm hết tiêu chảy mà còn gây rối loạn hệ vi sinh đường ruột làm cho bệnh nặng thêm.
Trong tiêu chảy không nhiễm khuẩn không dùng kháng sinh, đặc biệt là không dùng kháng sinh kéo dài vì sẽ không làm hết tiêu chảy mà còn gây rối loạn hệ vi sinh đường ruột làm cho bệnh nặng thêm. Các thuốc chống tiêu chảy không đặc hiệu và thuốc bao che vết loét chống kích thích… là một trong các thuốc được dùng trong trường hợp này.

Các thuốc chống tiêu chảy không đặc hiệu                         

Loperamid: Khi dùng liều cao kéo dài, loperamid sẽ gây táo bón, đau bụng, buồn nôn, nôn, khô miệng, trướng bụng, tắc, liệt ruột (do giảm co thắt, giảm nhu động ruột quá mức). Ngoài ra, thuốc có thể gây một số biểu hiện về thần kinh như nhức đầu, chóng mặt, mệt mỏi. Không dùng loperamid cho người nhu động ruột bị giảm sút, trướng bụng, thận trọng khi dùng với người viêm loét dạ dày, có chức năng gan suy giảm. Không dùng loperamid cho người có thai (vì chưa có đủ thông tin); có thể dùng cho người đang cho con bú (vì tiết qua sữa rất ít) nhưng chỉ nên dùng liều thấp. Trong vòng 48 giờ dùng riêng lẻ hay kết hợp với thuốc đặc trị mà không hiệu quả thì phải ngừng dùng.

Racecadotril: Racecadotril không gây co thắt ruột quá mức gây ra như loperamid; với liều điều trị,  không gây tai biến nào nghiêm trọng. Phạm vi liều của racecadotril rộng (có thể dùng gấp 20 lần liều thường dùng mà không bị tác dụng phụ), tuy nhiên, trong điều trị cũng chỉ nên dùng liều đủ hiệu quả chống tiết dịch, chất điện giải, không dùng liều quá cao. Racecadotril không có tác hại trên thần kinh của trẻ, có thể dùng cho trẻ từ 3 tháng tuổi trở lên.             

Diphenoxylat: Là chất chủ vận opioid, làm chậm nhu động ruột, các cơn co thắt, cho phép kéo dài thời gian vận chuyển sinh lý, tăng sự thu hút độ ẩm vào phân, ngăn sự hình thành phân lỏng.

Các thuốc bao che vết loét chống kích thích

Smecta: Là aliminium magnesium silicat, có cấu trúc từng lớp và có độ nhầy cao có tính bám dính cao nên bao che niêm mạc, có tác động với glycoprotein của chất nhầy làm tăng sức chịu đựng của lớp gel trên niêm mạc khi bị các tác nhân khác tấn công, nhờ vậy mà bảo vệ được niêm mạc tiêu hóa.

Actapulgid: Là muối alumium magneium silicat có tác dụng tăng khối lượng làm cho phân tạo thành khuôn, bao che vết loét nên đại tràng đỡ bị kích thích.                                              

Cả hai thuốc trên  không có tính cản quang, không nhuộm màu  phân, không làm thay đổi thời gian vận chuyển sinh lý của ruột; có thể gây táo bón nhưng hiếm (cẩn thận với người già) có thể gây trướng bụng, tổn thương ruột,  tắc ruột (không dùng cho trẻ dưới 3 tuổi trừ khi có chỉ đinh của bác sĩ, không dùng nếu trẻ đang sốt), do có tính hấp phụ nên làm giảm hay mất tác dụng của thuốc khác, phải dùng cách các thuốc khác ít nhất 2 giờ, không dùng phối hợp các chất này trong tiêu chảy nhiễm khuẩn vì tính hấp phụ làm giảm hiệu lực của kháng sinh.       

  DS. Bùi Văn Uy

Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Dùng thuốc trong tiêu chảy không nhiễm khuẩn

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐẶT CÂU HỎI & NHẬN TƯ VẤN MIỄN PHÍ TỪ CHUYÊN GIA
ĐỌC NHIỀU NHẤT