Đôi bạn

Trong các bạn văn của tôi, không có ai đôn hậu tài hoa mà suốt một đời bị gian nan như anh Trần Lê Văn (1920-2005).
Trong các bạn văn của tôi, không có ai đôn hậu tài hoa mà suốt một đời bị gian nan như anh Trần Lê Văn (1920-2005). Anh có vốn Hán học do cụ thân sinh là thầy lang dạy từ nhỏ và vốn văn hóa Pháp do thời Pháp tốt nghiệp thành chung, đi dạy học ở Sơn La. Anh tham gia Cách mạng 1945 và   về xuôi, hoạt động báo chí văn hóa ở Liên khu 3 thời chống Pháp, rồi về Hà Nội. Anh tham gia Nhân văn giai phẩm với bài Không sợ địch lợi dụng và truyện ngắn Thư gửi một người bạn cũ. Đường văn trắc trở, anh phải rời tờ báo của Hội Nhà văn về làm biên tập viên Ty Văn hóa Hà Tây (cũ). Lâu lắm anh mới được phục hồi sáng tác bình thường. Anh nghiên cứu văn học uyên thâm, dịch thơ Hán rất đạt. Thơ anh làm ngược với cuộc đời vất vả của anh: như một con sông êm đềm chảy, ít bài buồn mà nhiều lạc quan, hóm hỉnh, kêu gọi tình người: “Có ai nghe thấy một tiếng gọi/Thì thả con thuyền sang với tôi”.

Kỷ niệm của hai chúng tôi khá nhiều, vì anh ở phố Hàm Long, cách cơ quan tôi chỉ 3 bước, có dịp gặp nhau luôn. Đầu kháng chiến chống Pháp, ở Nam Định, ta giữ nông thôn và vây quân Pháp ở thành phố, tôi được giao nhiệm vụ Tổng biên tập tờ báo địch vận Liên khu 3  L‘ étincelle, chỉ có thêm một biên tập viên là Trần Lê Văn và vài anh em thợ in. Tòa báo lâu lâu lại phải chuyển đến một điểm xa hơn để tránh giặc Pháp đột kích bất ngờ.

Tôi, anh Văn và vợ là chị Bạc Thị Nâu (người Thái) thành một “gánh hát rong”, hết làng nọ đến làng kia. Đi bộ, mệt mà vui, đến đâu cũng được bà con ưu ái. Còn nhớ, có đêm khuya mới tới một xã, đành ngủ lại ở một cái miếu giữa đồng, 3 người nằm chung trên bệ gạch.

Vài tháng sau, anh Văn chuyển sang làm báo Nam Định kháng chiến. Tờ báo đã tập hợp được nhiều văn nghệ sĩ: Trúc Đường, Bùi Hạnh Cẩn, Sao Mai, Đoàn Văn Cừ, Nguyễn Xuân Huy. Anh em hồ hởi vì công việc viết báo, viết văn hợp với nhóm này hơn, lại được quần tụ, đọc và góp ý cho nhau, nâng cao nghề viết...  Sau về Thủ đô giải phóng, gia đình anh Văn gặp nhiều rủi ro liên tiếp:

Ngoài cái họa văn chương, con trai lớn của anh tử trận, con trai thứ bị tâm thần, một cháu gái bị liệt, nạn nhân chất độc da cam. Nhà đông con, “hàn sĩ” đành viết mướn quanh năm. Đến lúc đời sống khá hơn một chút thì lại bệnh, bị cưa một bên chân... Nghèo, nhiều điều không may, mà vẫn vui. Nhà lúc nào cũng có bạn. Người ăn xin đến, bao giờ chị Nâu cũng có bát cơm nguội dành cho. Anh Văn yêu bạn, lâu lâu có món nhuận bút lại mời một bữa, thanh đạm mà ấm tình người. Hàng chục năm anh là “chủ soái” hội bia họp ở gốc xoan cửa hàng phố Trần Hưng Đạo tập hợp hàng chục văn nghệ sĩ.

Tôi quen Quang Dũng qua Trần Lê Văn vì hai anh là đôi bạn “nối khố”.  Thời chiến tranh chống Mỹ, tôi sơ tán về làng Chuông, làng làm nón ở Hà Tây (cũ). Một hôm, anh Trần Lê Văn dẫn Quang Dũng ghé thăm tôi. Dân làng tò mò xúm lại “xem” Quang Dũng: Khổ người anh to cao như lực sĩ, da ngăm ngăm, dễ tưởng anh là hàng binh Âu Phi. Gặp anh lần đầu đã thấy mến, ăn nói nhỏ nhẹ, lại hay đùa, dễ thân và hồn nhiên.

Trước đây, người ta đồn Quang Dũng là người mẫu để Nhất Linh tạo ra nhân vật chính trong Đôi bạn. Lời đồn có lý do: Con người quắc thước, tính cách phần nào giống người trong truyện. Anh cũng có lần yêu, rồi dứt áo ra đi (theo Trần Lê Văn). Thời Pháp, có lần anh vượt biên sang Vân Nam và có gặp Nhất Linh. Nay, thấy lời đồn ấy vô căn cứ. Đôi bạn xuất bản năm 1937, đầu những năm 1940, Quang Dũng mới đi Vân Nam, và chắc anh đã đọc Đôi bạn. Theo nhà văn Tô Hoài, anh có gặp Nhất Linh ở Liễu Châu, sau đó không hợp nhau, Quang Dũng bỏ về nước, vào Vệ quốc đoàn và đi Tây Tiến.   

Tôi với anh gần nhà nhau. Sáng anh đi tập thể dục, thường vác theo cái bị cói để lượm lá khô về cho bà xã đun bếp. Tôi chạnh lòng nhớ đến truyện Đôi bạn, Nhất Linh cũng tả hai đứa trẻ nghèo nhặt lá bàng về đốt lửa sưởi. Quang Dũng thường bị ăn đói thời bao cấp, vì định lượng mỗi người chỉ được 225g gạo, Quang Dũng ăn đến 2 suất vẫn còn thiếu... Gạo thiếu nhưng thi hứng không bao giờ vơi cạn.

Hồn thơ của anh tiêu biểu trong hai câu thơ “Heo hút cồn mây súng ngửi trời” và “Mây ở đầu ô mây lang thang”, đó là một tâm hồn ưa thích phiêu bạt, muốn đi đây đi đó, muốn thoát ly cái đời thường nhàm chán - nét lãng mạn chung cho mọi dân tộc và mọi thời. Nhà thơ Anh Wordworth có bài thơ Lang thang như áng mây trời.  Người Đức có từ wanderlust (chứng thèm đi). Quang Dũng đi nhiều và phát hiện ra cái đẹp đơn sơ của đất nước: con sông, ngọn núi, cánh đồng, quán bên đường... và nét đẹp của người bình dân: cô gái bán cà phê, mắt người Sơn Tây, cô hàng xén... súng ngửi trời tô đậm một tính cách đặc biệt Quang Dũng: lang thang nhưng không mất chí khí nam nhi, xếp bút nghiên theo việc đao cung.Vì vậy mà anh có Tây Tiến, bài thơ tuyệt tác thời chiến. Khí phách các chàng trai xông vào cái chết vì Tổ quốc khiến ta nhớ đến bài thơ bất hủ của nhà thơ Anh Tennyson ca ngợi cái chết của 600 kỵ sĩ trong Cuộc tấn công của đội khinh kỵ. Bài Tây Tiến đã được khắc vào bia kỷ niệm Trung đoàn Tây Tiến ở Mai Châu, còn tượng đồng Quang Dũng, được sự hưởng ứng của Quỹ Thụy Điển Việt Nam phát triển văn hóa, CLB Văn nghệ Xứ Đoài đã dựng tượng Quang Dũng ở sân trường nơi anh học ngày xưa.             

  Hữu Ngọc

Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Đôi bạn

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐỌC NHIỀU NHẤT