Chuyện quanh “lá chắn thép”

Suckhoedoisong.vn - Mỗi lần lên núi, vào những ngày tháng 4 lịch sử, đi dọc đèo Phượng Hoàng (nằm trên quốc lộ 26 giữa tỉnh Đăk Lăk với Khánh Hòa), dừng lại ở những buôn làng như càng thấu rõ ở đâu cũng có những vẻ đẹp thầm lặng, bền bỉ mà đáng kính.

Được sống bên rừng với sự bao bọc của thiên nhiên hùng vĩ là niềm hạnh phúc lớn lao nhất của những cư dân nơi đây. Năm 1975, đèo Phượng Hoàng được ví như “lá chắn thép” của Ngụy quyền Sài Gòn. Chúng quyết liệt lập tuyến phòng thủ tại đây với âm mưu ngăn chặn quân ta tiến quân về miền xuôi đồng thời chờ thời cơ tái chiếm thủ phủ Tây Nguyên.

Trẻ em ở các buôn làng trên thảo nguyên không còn tảo hôn và bỏ học.

Trẻ em ở các buôn làng trên thảo nguyên không còn tảo hôn và bỏ học.

Giữ lửa truyền thống quyết thắng

Biết rằng, nơi nào chiến tranh từng oanh tạc thì nỗi đau chẳng dễ nguôi ngoai. Nhưng, với những người dân quanh đèo Phượng Hoàng, nỗi đau ấy còn là nguồn động lực hun đúc ý chí vượt lên mất mát, rũ bỏ đói nghèo, lạc hậu, gìn giữ, trao truyền những giá trị truyền thống mộc mạc, thiêng liêng ngay từ ngày đầu bước vào thời bình.

Băng qua nhiều vách núi hùng vĩ nhưng đèo Phượng Hoàng đã thể hiện tầm quan trọng mang tính chiến lược của mình đó là kết nối duyên hải miền Trung với Tây Nguyên. Đầu đèo là xã Ea Trang (Ma Đ’rắk, Đăk Lăk), cuối đèo là xã Ninh Sim (Ninh Hòa, Khánh Hòa).

Cựu chiến binh Sư đoàn 10 (thuộc Quân đoàn 3) Lê Văn Tĩnh từng tham gia chiến đấu trên cung đèo này hồi tưởng lại: Mỗi khi trở lại đèo Phượng Hoàng như là sự trở về của ký ức hào hùng, ký ức nguồn cội với hoài niệm tự hào lẫn bi tráng. Mùa xuân năm 1975, sau khi tham gia đánh địch và giải phóng Buôn Ma Thuột, Sư đoàn 10 được giao nhiệm vụ tấn công, tiêu diệt và chọc thủng tuyến phòng thủ của địch trên đường 21 (nay là quốc lộ 26 - đèo Phượng Hoàng). Để đối phó với Sư đoàn 10, địch bố trí Lữ đoàn Dù số 3 của Ngụy quân cùng một số lực lượng mạnh tạo nên “lá chắn thép” vững chãi ở đèo Phượng Hoàng.

Với quyết tâm mạnh mẽ, đoàn kết và ý chí kiên cường, trong các ngày 30, 31/3 đến chiều 1/4/1975, lực lượng ta đã đánh tan nhiều cứ điểm của địch dọc đèo. Tinh thần quả cảm, sáng tạo của ta đã khiến chúng thất bại, bị ta tiêu diệt và bắt sống 4.000 tên, thu nhiều vũ khí, đạn dược. Đến ngày 2/4, Sư đoàn 10 tiếp tục tiến xuống làm chủ Ninh Hòa rồi giải phóng Nha Trang. Sau đó di chuyển vào Nam góp phần làm nên chiến thắng lịch sử 30/4, thống nhất đất nước.

Con đèo xưa hứng chịu chất chồng đau thương giờ bao bọc cho nhiều buôn làng. Dưới con đèo là thảo nguyên Ma Đ’rắk, là những cánh đồng trù phú như quanh năm chỉ biết tận hiến vị ngọt ngào chắt ra từ lòng đất.

Ký ức xưa dội về, già làng Y Tung ở xã Ea Trang (Ma Đ’rắk) bừng lên niềm tự hào: Lòng yêu Tổ quốc, yêu Bác Hồ, theo Đảng của cộng đồng các dân tộc ở đây luôn son sắc. Xưa chịu đạn cày, bom xới là vậy, nay cũng vậy. Suốt những ngày cuối tháng 4 năm 1975, nhà nhà đều rộn rã niềm hân hoan. Ngay sau đó là những cuộc họp buôn nêu bật quyết tâm, phải từng bước đánh tan “giặc đói”. Người nọ nhắn nhủ với người kia rằng: Sự cần cù lao động cộng với yêu thương và niềm tin chính là sức mạnh vươn lên.

Từ những ngày gian khó, quân dân đã đùm bọc, viên thuốc cũng sẻ chia nhau, bát cơm ngon cũng nhường nhịn nhau. Lẽ sống ấy vẫn được người quanh đèo này khắc ghi, truyền kể trong mỗi dịp cuối tuần hay sau những giờ lao động nhọc nhằn trên nương rẫy. Chẳng mấy chốc, cuộc “lột xác” diệu kỳ đã đến với hàng loạt thôn, buôn quanh đèo Phượng Hoàng.

Cái đói chỉ còn trong ký ức, cựu chiến binh Trần Hữu Thực (xã Ninh Sim, Ninh Hòa, Khánh Hòa) tự tin: “Lửa” truyền thống luôn hừng hực trong lòng mỗi người. Những ngày đánh địch trên đèo quyết liệt thì hòa bình cũng phải lao động hăng say. Từ trong bộn bề hoang tàn, chúng tôi đã lập nên hàng trăm đội, nhóm sản xuất để hỗ trợ nhau gây dựng cuộc sống mới. Nay, nhiều nhà đã có của ăn, của để, có phương tiện nghe nhìn, đi lại, đời sống và sức khỏe đều vững mạnh cả.

Người dân đã biết áp dụng khoa học vào trồng lúa nước để nâng cao đời sống.

Người dân đã biết áp dụng khoa học vào trồng lúa nước để nâng cao đời sống.

Thương nhiều, đẻ ít

Để vơi bớt những mệt nhọc thường nhật, mỗi dịp Lễ, đặc biệt là ngày 30/4-1/5 các buôn làng lại quây quần nghĩ ra một “đặc sản” văn hóa, văn nghệ để biểu diễn. Thuộc hàng chục bài Pô Khan (hát kể sử thi), ông A Thông, người Ê Đê ở xã Ea Trang khoe: Mình đã truyền được cho 50 đứa thanh niên rồi. Chúng rất thích thú. Năm nào cũng vậy, để kỷ niệm ngày trọng đại của tháng 4/1975, chúng tôi đều đến nhiều xã khác giao lưu các bài Pô Khan. Những câu chuyện kể, điệu hát đều tập chung chủ yếu vào ca ngợi: Tình nghĩa xóm giềng; Bình đẳng; Vai trò của lao động và tầm quan trọng của người phụ nữ... trong việc xây dựng nếp sống mới. Văn hóa truyền thống lan đến đâu, tệ nạn giảm đến đó. Đến nay, trải đều ở nhiều xã của Ma Đ’rắk đã hình thành hàng chục đội, câu lạc bộ văn hóa - văn nghệ mà nòng cốt chính là những nông dân.

Di cư ở miền Bắc vào từ những ngày sau giải phóng, hàng chục nông dân người Mông ở xã Cư San (Ma Đ’rắk) lấy những điệu kèn, bài múa làm quà tặng các cư dân bản địa. Có đôi tay điêu luyện trong việc may các trang phục người Mông, chị Lý Thị Dí (thôn 7, xã Cư San) tâm tình: Trang phục của người Mông phải may chuẩn từ váy, áo xẻ ngực, yếm lưng, khăn quấn đầu... Trang phục càng đẹp và ấn tượng thì điệu kèn, bài múa càng đi sâu vào lòng người hơn, hấp dẫn hơn. Cũng như chị Dí, Lý Thị Thu (ở cùng thôn) xem múa như món ăn tinh thần không thể thiếu mỗi ngày. Nhớ những ngày đầu đi tập luyện và giao lưu, Thu chia sẻ: Lúc đầu chỉ múa vui. Múa trên ruộng rẫy để yêu cuộc sống hơn. Khi biểu diễn giữa bao nhiêu người từ khắp các buôn đổ về run lắm. Nhưng dần dần rồi quen. Thấy ai cũng say lòng với điệu múa mộc mạc, điều đó tiếp thêm niềm đam mê cho chúng tôi. Nhiều già làng người Ê Đê như ông Y Mát, Y Long sau khi xem người Mông múa còn bảo: Món đặc sản này phải thường xem, phải giao lưu với tiếng chiêng, điệu Pô Khan của Tây Nguyên thôi.

Sự ngân vang của tiếng kèn người Mông, sự trầm bổng của những điệu Pô Khan đã khiến cho khắp các buôn làng quanh đèo Phượng Hoàng như đón nhận thêm một luồng gió mát trong phong trào văn hóa - văn nghệ. Chính những buổi giao lưu là sợi dây đặc biệt kết nối cộng đồng, xóa bỏ mọi mâu thuẫn.

Cô đỡ thôn bản Lý Thị Dung chia sẻ: Trong các buổi quây quần, già làng, các trưởng thôn cùng nhân viên tuyên truyền dân số, nhân viên y tế thôn bản lại tranh thủ phân tích cặn kẽ những cái hay, cái đẹp của nếp sống mới. Những lợi ích của việc nuôi con khỏe, dạy con ngoan, đặc biệt là nên đẻ ít, không tảo hôn. Chính vậy nên, đến đầu năm 2019 này, nạn tảo hôn trong các xã ở Ma Đ’rắk giảm hẳn, nhiều người xóa hẳn tư tưởng “trời sinh voi sinh cỏ”.

Thôi hẳn thói quen dùng bạo lực để nói chuyện với vợ từ mấy năm nay, A Thông và nhiều trai tráng khác ở xã Ea Riêng (Ma Đ’rắk) thú thực: Là lao động chính, khỏe như lực điền nhưng lại chỉ mê rượu và hay đánh vợ nên trong các đêm hội văn nghệ bị người dưới xuôi và các xã lân cận phê bình mãi, hiểu ra thấy mình sai quá. Từ đó, hầu hết các xã đều lập nhóm “đàn ông không đánh vợ”, thương nhiều hơn và không ép vợ đẻ từ 4-8 đứa mới thôi như trước kia nữa.

Những thảo nguyên trù phú quanh đèo Phượng Hoàng.

Những thảo nguyên trù phú quanh đèo Phượng Hoàng.

Yêu dược liệu và thiên nhiên

Sau 44 năm chấm dứt chiến tranh, những ngày này, đi dọc thảo nguyên Ma Đ’rắk, thấy như cái kho phù sa khổng lồ, gom góp sự màu mỡ ban phát cho người dân nơi đây nhiều vụ mùa chắc bụng. Cả vật chất lẫn tinh thần đều phát triển.

Ý thức sâu sắc giá trị của cuộc sống ấm no, yên bình và những mất mát to lớn của thế hệ cha ông trong chiến tranh nên người Ninh Sim vẫn nhẩm câu cửa miệng “làm điều xấu là có lỗi tội với những người đã hy sinh năm 1975 trên đèo Phượng Hoàng”. Khi vào rừng bà con chỉ chặt cái cành, thấy dòng suối trong không được xâm hại. Hội phụ nữ, Hội nông dân xã còn thành lập hàng chục chi hội để phát triển mạnh mẽ các mô hình như: “Nuôi heo đất xây mái ấm”; “Cùng nhau bảo vệ cây thuốc quý”; “Mỗi ngày một việc tốt”; “Sáng tạo sản xuất trên thảo nguyên”...

Đến nay, Ninh Sim đã có trên 100 hộ khá giả, không còn hộ đói, trẻ em đến trường đầy đủ. Người dân đã biết trồng lúa, mía, ngô... giống mới có áp dụng khoa học - kỹ thuật để nâng cao chất lượng đời sống.

Trải qua hàng ngàn đêm canh lâm tặc và kẻ xấu xâm hại rừng, tận diệt cây thuốc quý trên địa bàn, anh Trần Tuấn Hải bộc bạch: Chúng tôi đều làm việc ấy bằng lòng tự nguyện. Nếu không yêu thiên nhiên để cho nước cạn, rừng kiệt, dược liệu mất dần thì đau biết mấy. Thế hệ tương lai đời sống sẽ ra sao? Trong câu chuyện kể của những cựu chiến binh lớn tuổi, có những cây thuốc quý, người dân đã vượt hiểm nguy lên dốc cao lấy về chữa trị cho bộ đội. Lại có những cây thảo dược tác dụng rất tốt cho sức khỏe. Giờ đây, các loại ấy không còn nhiều nên phát hiện chỗ nào có là báo ngay với chính quyền để có phương pháp bảo tồn, nghiên cứu hoặc nhân giống.

Bài và ảnh: Đông Hưng

Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Chuyện quanh “lá chắn thép”

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐẶT CÂU HỎI & NHẬN TƯ VẤN MIỄN PHÍ TỪ CHUYÊN GIA
ĐỌC NHIỀU NHẤT