Cảo thơm lần giở: Strinberg nghĩ gì?

Suckhoedoisong.vn - Viện bảo tàng Strinberg ở số 85 phố Drottninggatan, trên gác một tòa nhà thường gọi là “Tháp xanh”. Đây là một trong 24 nơi tại Stockholm mà nhà văn đã ở, nơi duy nhất còn giữ được nguyên vẹn.

Phần 1

Nếu trên một cái gò của Công viên Thủ Lệ, người ta đặt tượng Nguyễn Tuân không mặc quần áo, bắp thịt nổi lên cuồn cuộn, ắt hẳn là dân Hà Nội cười đến chết. Vì cũng khó tưởng tượng ra một Nguyễn Tuân “nguyên thủy”, một Nguyễn Tuân lực sĩ nữa!

Điều tương tự như vậy đã xảy ra với Strinberg (St’rin-be-ri, 1849-1912), nhà văn hóa lớn của Thụy Điển. Nhà điêu khắc Carl Eldh (Cac En) đã gán cho ông một thân hình lực sĩ không mặc quần áo, với dáng một vị thần cổ Hy Lạp - La Mã: tượng đồng của ông ngồi đăm chiêu trên một quả đồi nhỏ biến thành Công viên Strinberg, ở cách Viện bảo tàng Strinberg độ trăm thước, bên phố Drottninggatan là một phố cổ hiện đại hóa rất đẹp.

Viện bảo tàng Strinberg ở số 85 phố Drottninggatan, trên gác một tòa nhà thường gọi là “Tháp xanh”. Đây là một trong 24 nơi tại Stockholm mà nhà văn đã ở, nơi duy nhất còn giữ được nguyên vẹn. Ông ở trong một căn hộ tầng bốn, trong gần 5 năm, mãi cho đến khi ông qua đời; nhà này ở một khu cửa ô, một khu mà ông đã sống vào thời thơ ấu. Tất cả các phòng, phòng ăn, phòng khách, phòng ngủ, phòng làm việc... đều giữ nguyên như khi ông chưa qua đời. Giường ngủ y như lúc ông tắt thở, có mấy quyển Kinh thánh khổ lớn. Phòng làm việc còn để đèn dầu, tuy trong phòng đã mắc đèn điện; còn có cả chiếc thang máy cũ lồng mắt cáo. Bạn bè đến phòng khách có chiếc dương cầm thường nghe nhạc Beethoven. Ngày sinh nhật ông 60 tuổi (1909) và 63 tuổi (1912) ông đã đứng trên ban công phòng ngủ để nhìn xuống đám rước đuốc diễu qua mừng ông; buổi rước đuốc lần thứ hai, những người ngưỡng mộ ông đã trao cho ông “Giải chống Giải thưởng văn học Nobel”, do quần chúng quyên góp - Viện Hàn lâm Thụy Điển rất bảo thủ không tặng ông Giải Nobel vì ông có tư tưởng cấp tiến. Đám tang của ông biến thành một cuộc biểu tình lớn với sự tham gia của 6 vạn công nhân thuộc phong trào công đoàn.

 

Nhà văn Strinberg (1849-1912).

Nhà văn Strinberg (1849-1912).

Tiễn tôi, sau khi cho tôi xem một phim về Strinberg, bà Anita Perrson (A-ni-ta Pec-xon), Giám đốc Viện bảo tàng Strinberg cười mà bảo: “Tôi rất phục thiên tài Strinberg nhưng tôi không thích tính tình ông vì ông không hòa với xã hội, khó tính”.

Xin nói thêm là Strinberg nổi tiếng là người ghét phụ nữ do những thất bại trong tình yêu và hôn nhân.

Đặc trưng, bản chất của Strinberg là gì? Qua những sáng tác rất đa dạng, ông thể hiện ra lúc là người ghét đàn bà, lúc là trái tim trìu mến, lúc thì là một nhà báo bút chiến ngỗ ngược, lúc thì là người hùng siêu nhân kiểu Nietzsche, lúc là thiên tài bên bờ vực thẳm của sự mất trí, lúc lại là một đầu óc viển vông. Strinberg là tất cả những cái đó.

Ông xuất thân từ một môi trường giai cấp trung lưu ở Stockholm. Bố ông làm nghề buôn tàu thủy. Mẹ ông nguyên là con gái một chủ quán, sau đi ở cho bố ông, làm người tình trước khi lấy bố ông. Sự chênh lệch về vị trí xã hội này đã có ảnh hưởng lớn đến tâm lý và tư tưởng của ông, gây cho ông ít nhiều mặc cảm về địa vị xã hội của mình.

Ông đặt hy vọng sẽ nổi danh với vở Ông Olof (Master Olof) viết năm 23 tuổi; nhưng Nhà hát Hoàng gia không nhận diễn; mãi sau khi ông là nhà văn nổi tiếng, vở ấy mới được diễn và xuất bản.

Năm 29 tuổi, ông lấy bà nam tước Siri von Essen (Xi-ri phon Et-xen). Bà này mơ làm diễn viên, nên cuối cùng đã bỏ chồng là một sĩ quan để lấy ông. Mới đầu họ có vẻ hạnh phúc, nhưng chỉ mấy năm sau vợ chồng lủng củng và ông bắt đầu ghét phụ nữ. Từ năm 35 tuổi, ông mất thăng bằng tâm thần. Do quá nhạy cảm, dễ tự ái, lại bài bác tôn giáo và công kích phụ nữ, ông không sống được ở trong xã hội Thụy Điển; ông kéo vợ con ra nước ngoài, sống lang thang ở Pháp, Thụy Sĩ...

Mãi đến năm 1879, khi ông 31 tuổi, ông mới nổi tiếng là nhà văn do tác phẩm Căn phòng đỏ, một cuốn tiểu thuyết phê phán xã hội.

Năm 1883, Tập thơ đánh dấu bước đầu sáng tác thơ trữ tình của ông; với những nét tự nhiên chủ nghĩa, ngôn từ táo bạo, tập thơ này báo hiệu thơ hiện đại thế kỷ XX và mang lại một luồng tươi mát cho thơ Thụy Điển.

Những năm 80, ông sáng tác truyện lịch sử Những số phận và những cuộc phiêu lưu Thụy Điển (1882); ông  đề cập đến sự kiện lịch sử một cách khá phóng túng, nêu lên những mâu thuẫn xã hội, như giữa thành phố và nông thôn, đả kích văn minh coi là của các giai cấp trên, bênh vực các tầng lớp cùng dân, nhiều khi có khuynh hướng không tưởng vô chính phủ.

Những năm 1884-1886, Strinberg viết một loạt truyện ngắn lấy tên chung là Vợ chồng đề cập đến vấn đề vợ chồng, thách thức phong trào phụ nữ tiến bộ và cả tầng lớp xã hội bảo thủ. Ông bị đưa ra tòa nhưng được trắng án.

Năm 1894, ông đến ở Paris. Ngán ngẩm về văn chương, ông quay sang nghiên cứu khoa học tự nhiên, chiêm tinh, khoa học huyền bí. Ông bị khủng hoảng tinh thần (thường gọi là cuộc khủng hoảng Inferno=địa ngục) có tính chất thần bí và huyền bí; ông bị ám ảnh bởi cuộc viễn du âm phủ của nhà thơ Ý Dante và khái niệm “tương ứng” của Swedenborg. Ông coi đời người là một quá trình tội lỗi và sám hối. Từ bỏ khoa học và chứng thực luận, tinh thần chống đối và cải tạo thế giới, ông chấp nhận trật tự thế giới trong tác phẩm văn xuôi Âm phủ (Inferno) viết bằng tiếng Pháp và xuất bản bằng tiếng Thụy Điển năm 1897, và bộ ba kịch Con đường đi Đa-mat. Từ năm 1899, ông trở về ở hẳn Thụy Điển, trừ vài chuyến đi ngắn ra nước ngoài. Ông sống cô đơn, yếm thế. Năm 53 tuổi (1901), ông lấy vợ lần thứ ba, cưới một nữ diễn viên Na Uy là Harriet Bosse (Ha-ri-et Bôt-xê); hai bên bỏ nhau độ một năm sau, sau khi sinh một con gái.

Strinberg bị ung thư và chịu đựng rất can đảm. Ngày 13/5/1912, ông cảm thấy cái chết đã đến, ông ôm Kinh thánh vào ngực và khẽ nói: “Tất cả đã được sám hối”. Hôm sau, ông tắt thở.

Toàn tập trước tác của Strinberg do Nhà nước xuất bản từ 1980 gồm một khối lượng đồ sộ khoảng bảy chục cuốn.

Lĩnh vực quan trọng nhất trong sáng tác của ông là sân khấu. Ông viết loại kịch luận kiểu cổ điển, loại kịch lịch sử theo truyền thống Shakespeare (Sêch-xpia), loại kịch thần tiên báo hiệu sân khấu tự nhiên chủ nghĩa và hiện đại, loại kịch tượng trưng chủ nghĩa độc đáo, loại kịch mệnh danh là “kịch trong phòng” ít chú trọng đến nhân vật mà đặt trọng tâm vào khung cảnh và không khí tượng trưng.

Trong kho tàng sân khấu ông để lại, Tiểu thư I-u-li (1888) có tính chất tự nhiên chủ nghĩa, là vở kịch nổi tiếng nhất và được diễn nhiều nhất. Tác phẩm theo nguyên tắc sân khấu cổ điển (chuyện xảy ra ở một nơi, trong một ngày); đồng thời nó theo khuynh hướng phân tích tâm lý kiểu hiện đại (các vai chính không được trình bày dưới dạng nhân cách hoàn chỉnh mà chỉ là những mảnh rời, những sản phẩm của di truyền và hoàn cảnh xã hội). Đồng thời, về nội dung cũng rất tiêu biểu cho đời sống Thụy Điển. Kịch tính là do xung đột giữa cô chủ quý tộc kiêu kỳ và người hầu trai ti tiện có nhiều tham vọng và trắng trợn, xung đột giai cấp và tính cách trên cơ sở tình dục. Một đêm lễ hội dân gian tưng bừng, I-u-li, cô bá tước thuộc một gia đình đang suy thoái, vui đùa khiêu vũ với gã đầy tớ Jean (Giăng) rồi ngủ với y. Y lợi dụng thời cơ xui tình nhân ăn cắp tiền của bố để cùng hắn trốn sang Thụy Sĩ mở một khách sạn; từ lâu, đó là điều y mơ ước. I-u-li vừa căm thù và khinh y, nhưng cảm thấy bị gắn vào y tuy rất xấu hổ. Cuối cùng, cô tự tử bằng con dao y đang cạo râu. Cái chết của I-u-li khẳng định quan điểm của Darwin (Đac-uyn) về sự tồn tại của những kẻ mạnh, từ cá nhân đến dòng giống, giai cấp.

Bộ ba kịch Con đường đi Đa-mat (1898-1904) phản ánh cuộc khủng hoảng tâm thần gần như loạn trí thời “Âm phủ” (Inferno) và đi tiên phong trong thể kịch biểu hiện chủ nghĩa.

Vũ điệu của cái chết (1900) cũng đề cập đến chủ đề vợ chồng chung sống, gắn bó với nhau bằng tình yêu, hôn nhân và hơn nữa bởi căm ghét. Bằng mọi thủ đoạn, hai vợ chồng một “đại úy” tìm cách hại nhau.

Giấc mộng (1902) được Strinberg đánh giá là “vở kịch tôi yêu nhất, đứa con của nỗi đau khổ lớn nhất của tôi”. Ý chủ đạo là: mộng hơn thực - của cải quý nhất là cái mình không được - con người luôn tự làm khổ mình. Nội dung kết hợp triết lý yếm thế kiểu Schopenhauer (Sô-pen-hau-ơ) với sự hài hòa do chịu đựng. Lời nói được nhấn mạnh là: “Con người đáng thương hại”. Chuyện kể về công chúa con vua Trời Indra (In-dra), thần Ấn Độ, một hôm xuống trần gian, đâu đâu cô cũng thấy đau khổ và ảo mộng tan vỡ. Lòng thương hại người khiến cô kết hôn với một luật sư mà cô cho là người đau khổ nhất. Cuộc hôn nhân thất bại; cô chán ngán về trời xin vua cha thương tất cả chúng sinh. Đau khổ là sự sám hối, chết là giải thoát, theo quan niệm Ấn Độ. Cuối kịch là hình ảnh Chúa Giê-su đi trên nước.

(Mời đón đọc tiếp phần 2 trên SK&ĐS số chủ nhật 129)

Hữu Ngọc

Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Cảo thơm lần giở: Strinberg nghĩ gì?

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐẶT CÂU HỎI & NHẬN TƯ VẤN MIỄN PHÍ TỪ CHUYÊN GIA