Cảo thơm lần giở: Camus nghĩ gì?

Suckhoedoisong.vn - Trong 25 năm sống bên Pháp, đặc biệt khi lãnh đạo phong trào Việt kiều yêu nước, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện được giới trí thức Pháp kính nể.

Có lần ông thảo luận với triết gia Camus về vấn đề Khổng học, ông bảo với Camus là Camus không thể hiểu được ảnh hưởng sâu sắc của Khổng học đối với Việt Nam vì chỉ hiểu bằng trí tuệ, còn người Việt Nam thì lại “sống Khổng học”, cho nên Khổng học thấm nhuần tư duy và tình cảm trong hàng chục thế kỷ.

 

Nhà văn Camus Albert (1913-1960)

Nhà văn Camus Albert (1913-1960)

 

Camus Albert (Ca-muy, 1913-1960) là nhà văn Pháp được giải thưởng Nobel năm 1957. Ông sinh tại Algérie, mất năm 47 tuổi vì tai nạn xe hơi ở Pháp. Thời kỳ thơ ấu của ông khá nghèo khổ, mẹ gốc Tây Ban Nha, bố là công nhân nông nghiệp, mất khi Camus lên 1 tuổi. Camus bị lao phổi từ năm 16 tuổi, bỏ dở việc theo học khoa triết học, ông làm nhân viên, diễn viên sân khấu, rồi làm báo. Ông tham gia cuộc kháng chiến chống phát-xít Đức và là chủ bút tờ báo bí mật Chiến đấu (Combat, 1944-1946). Sau đó, ông từ bỏ con đường cách mạng, ly khai Đảng cộng sản Pháp. Trở thành một trong những người dẫn đầu trào lưu hiện sinh chủ nghĩa, hiểu lịch sử theo hướng định mệnh, dĩ chí chấp nhận chủ nghĩa tư bản. Ngay từ các tác phẩm: Mặt trái và mặt phải (L’Envers et l’Endroit, 1937) và Đám cưới (Noces, 1938), trong khi ca tụng cái đẹp rực rỡ ánh mặt trời của quê hương, ông cũng đã biểu thị một thái độ bi quan sâu sắc đối với cuộc sống. Sau đó, tiểu thuyết Người xa lạ (L’Etranger, 1942) cũng như tác phẩm triết học Huyền thoại Si-di-phơ (Le Mythe de Sisyphe, 1942) đều chứa đựng học thuyết phi lý của chủ nghĩa hiện sinh. Si-di-phơ, nhân vật thần thoại Hy Lạp, bị trừng phạt phải lăn đá lên sườn núi dốc; lên đến đỉnh, đá rơi xuống chân dốc, lại phải lăn lên, cứ thế vĩnh viễn; theo ông, cái đó tượng trưng cho cuộc sống vô lý; nhưng chính sự nổi dậy, cố gắng vô vọng mới là cái vĩ đại của con người tự do. Ông biểu hiện khuynh hướng nổi loạn cá nhân trong các vở kịch Ca-li-guy-la (Caligula, 1945) và Ngộ nhận (Le Malentendu, 1945). Tiểu thuyết Dịch hạch (La Peste, 1947) biểu tượng cuộc xâm lược của quốc xã Đức: đề cao sự đoàn kết của tập thể chống lại cái ác; nhưng vẫn chứa đựng yếu tố hiện sinh chủ nghĩa về sự bất lực và vô nghĩa của cuộc sống. Người nổi loạn (L’Homme révolté, 1951) đã đưa đến sự tuyệt giao với Jean Paul Sartre sau một cuộc bút chiến. Sartre trách Camus theo một chủ nghĩa nhân bản tư sản chung chung, lùi bước trước triển vọng một cuộc cách mạng theo hướng phát triển lịch sử. Trong tập tiểu luận triết học trên, ông điểm lại tất cả các hình thức nổi loạn (siêu hình, chính trị, nghệ thuật) qua các thời đại, cho quan điểm lịch sử của Mác là không tưởng. Ông miêu tả con người cảm thấy sâu sắc sự vô lý của cuộc sống, luôn luôn nổi dậy chống lại sự khốn khổ ấy của kiếp người, nhưng cuối cùng không có lối thoát, mọi cố gắng đều vô ích.

Sau đây là một số suy nghĩ của Camus:

Để sửa tính thờ ơ tự nhiên, tôi đứng giữa sự khốn khổ và mặt trời. Sự khốn khổ ngăn tôi, cho là mọi sự việc đều tốt lành dưới ánh mặt trời và trong lịch sử; còn mặt trời dạy cho tôi biết lịch sử không phải là tất cả.

Không có tình yêu, cuộc sống nào mà không kèm theo nỗi thất vọng về cuộc sống.

Tôi thiết tha với thế giới bằng các động tác, với con người bằng tình xót thương và ân tình. Đối với mặt trái và mặt phải ấy của thế giới, tôi không muốn lựa chọn, tôi không muốn người ta lựa chọn.

Sung sướng không có gì là xấu hổ. Nhưng ngày nay kẻ ngu đần làm chúa, tôi gọi kẻ ngu đần là người sợ hưởng thụ.

Thế giới thì đẹp, ngoài thế giới ra, không có cứu vớt nào khác.

Nếu có một tội lỗi với cuộc sống, không phải là tuyệt vọng đối với nó mà là ước vọng một cuộc sống khác và lẩn tránh cái vĩ đại bất di bất dịch của cuộc đời này.

Con người là gì? Con người là sức mạnh, rút cuộc bao giờ cũng lật đổ những bạo chúa và các thần linh.

Chỉ có một vấn đề triết học thực sự nghiêm túc: đó là tự sát. Suy ngẫm xem cuộc sống đáng hay không đáng sống, đó là giải đáp vấn đề cơ bản của triết học.

Cái vô lý phụ thuộc vào con người cũng như vào con người và thế giới. Tạm thời nó là sợi dây duy nhất gắn con người với thế giới.

Sống là làm cho cái vô lý sống. Làm cho cái vô lý sống, trước tiên là nhìn kỹ nó.

Trong sự gắn bó của con người với cuộc sống, có cái gì mãnh liệt hơn tất cả những nỗi khốn khổ của thế giới. Nhận xét của thể xác cũng có giá trị ngang với trí tuệ.

Tất cả những nhân vật của Dostoievsky đều tự vấn về ý nghĩa cuộc sống. Chính điều đó khiến họ mang tính hiện đại: họ không sợ bị chế giễu.

Người ta chỉ tư duy qua hình ảnh. Nếu bạn muốn trở thành triết gia thì hãy viết tiểu thuyết.

Cứu vớt cái gì còn có thể cứu vớt được, cốt chỉ để có thể có tương lai, đó là động cơ vĩ đại, niềm đam mê và sự hy sinh cần có.

Vấn đề đối với chúng ta là cần biết, nếu con người không có sự giúp đỡ của cái vĩnh viễn hoặc của tư duy thuần túy lý tính, tự bản thân có thể tạo ra những giá trị của riêng con người.

Bằng cách bảo tồn cái đẹp, chúng ta sẽ chuẩn bị cho cái buổi phục hưng mà nền văn minh sẽ ra đời ở trung tâm tư duy của nó, cách xa hẳn những nguyên tắc hình thức và những giá trị xuống cấp của lịch sử, cái đức tính sống động ấy tạo ra phẩm chất chung của thế giới và con người.

Hữu Ngọc

Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Cảo thơm lần giở: Camus nghĩ gì?

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐỌC NHIỀU NHẤT