Cách chăm sóc bệnh nhân thấp tim

Suckhoedoisong.vn - Thấp tim là một bệnh nhiễm khuẩn - nhiễm độc - miễn dịch, xảy ra sau nhiễm liên cầu khuẩn tan huyết nhóm A, biểu hiện bằng những tổn thương...

Thấp tim là một bệnh nhiễm khuẩn - nhiễm độc - miễn dịch, xảy ra sau nhiễm liên cầu khuẩn tan huyết nhóm A, biểu hiện bằng những tổn thương, nhất là tim, khớp và mạch máu. Bệnh làm tổn thương viêm cơ tim, viêm màng trong tim không chỉ hay gặp nhất mà còn để lại di chứng nặng nề, có thể gây tử vong và làm cho bệnh nhân trở thành tàn phế. Vì vậy, việc phát hiện sớm, điều trị, chăm sóc đúng là vô cùng quan trọng.

Biểu hiện và những biến chứng

Biểu hiện lâm sàng bệnh thấp tim thường xảy ra sau 2-4 tuần hoặc lâu hơn nữa kể từ khi bệnh nhân bị nhiễm liên cầu ở họng. Các biểu hiện này có thể xuất hiện độc lập hay phối hợp với nhau.

Biểu hiện tại khớp, có các biểu hiện của viêm khớp: sưng, nóng, đỏ, đau, vận động hạn chế. Viêm nhiều khớp (còn gọi là đa khớp) và viêm các khớp lớn như khớp cổ chân, cổ tay, khớp gối, khuỷu tay... Điều đặc biệt, viêm khớp có tính chất di chuyển: Khi khớp này đỡ thì lại xuất hiện viêm ở khớp khác. Thời gian viêm của mỗi khớp thường từ 3-7 ngày, không bao giờ kéo dài quá 1 tháng.

Cách chăm sóc bệnh nhân thấp tim

Khi trẻ bị thấp tim có thể bị viêm tim toàn bộ (tổn thương viêm ở cơ tim, ở màng tim và màng ngoài tim).

Nếu ở thể không điển hình thì có các biểu hiện như: Viêm cơ tim là tổn thương hay gặp nhất trong bệnh thấp tim (100%). Biểu hiện của viêm cơ tim là: đau ngực vùng trước tim, tim đập nhanh, loạn nhịp,... Bệnh nhân mệt mỏi, da xanh. Nếu viêm cơ tim nặng sẽ dẫn đến suy tim cấp (khó thở, tím tái, phù, đái ít...) và tử vong; Viêm màng trong tim (nội tâm mạc): thường xảy ra sau vài tuần kể từ khi bị viêm cơ tim do điều trị muộn hoặc điều trị không tích cực. Viêm nội tâm mạc là nguyên nhân dẫn đến các di chứng van tim mà di chứng hay gặp nhất là hở van 2 lá, sau đó là hẹp van 2 lá và hở van động mạch chủ. Các di chứng này chính là bệnh van tim ở trẻ lớn, là nguyên nhân gây suy tim mạn, giảm khả năng lao động, giảm tuổi thọ và gây tử vong. Chẩn đoán lâm sàng bệnh van tim chủ yếu dựa vào các dấu hiệu nghe tim. Trong bệnh van tim, khi có biểu hiện suy tim sẽ có các triệu chứng khó thở, phù, đái ít; Viêm màng ngoài tim: ít gặp hơn, thường xuyên có tràn dịch ít, dịch giảm nhanh khi dùng corticoid và sau khi khỏi không để lại di chứng gì. Chẩn đoán viêm màng ngoài tim dựa vào các dấu hiệu đau ngực, khó thở, huyết áp kẹt, mạch nhanh nhỏ, nghe có tiếng tim mờ, có thể có tiếng cọ màng ngoài tim, diện tim to, chiếu Xquang thấy bóng tim to, tim bóp yếu; Viêm tim toàn bộ: là tổn thương viêm ở cơ tim, ở màng tim và màng ngoài tim. Bệnh rất nặng và hay gặp ở trẻ nhỏ dưới 7 tuổi, cần được điều trị sớm và tích cực. Diễn biến của bệnh thường dẫn đến suy tim nặng và tử vong nhanh.

Biểu hiện ở da: Hiện nay rất ít gặp những tổn thương ở da, tuy nhiên nếu có thì các biểu hiện ở da thường là hạt Meynet. Đây là hạt cứng to bằng hạt ngô, hạt đỗ, sờ vào không đau, thường nằm ở quanh khớp hoặc dọc cột sống. Các biểu hiện ban vòng Lendoch - Leyner và hồng ban Besnier. Vòng ban màu đỏ đường kính trung bình 1-3cm hoặc ban đỏ nhạt màu ở giữa, thấy ở ngực, cổ, lưng, mặt trong đùi, không đau, không ngứa, thay đổi màu theo nhiệt độ của cơ thể và nhiệt độ môi trường, mất đi nhanh không để lại di chứng.

Biểu hiện ở thần kinh: Là biểu hiện múa vờn múa giật Sydenham, đây là các vận động nhanh không tự chủ, thiếu định hướng, không mục đích, tăng khi xúc động, mất đi khi ngủ. Biểu hiện trên lâm sàng là bệnh nhân có những động tác bất thường, tay quờ quạng, khi ăn hay bị rơi vãi, viết chữ nguệch ngoạc, nhiều khi không thể viết được, đôi khi không thể đi lại được. Trước khi múa giật thường có rối loạn tâm thần như: cáu gắt, hay xúc động.

Ngoài ra, bệnh còn có các biểu hiện khác như viêm cầu thận, viêm phổi, viêm gan cấp, tổn thương mạch máu...

Cần làm gì khi mắc bệnh?

Ngoài việc tuân thủ các nguyên tắc điều trị của bác sĩ (để bệnh nhân uống thuốc đúng, đủ liều lượng và đủ thời gian theo y lệnh) thì việc chăm sóc đúng sẽ giúp bệnh nhân nhanh phục hồi.

Nếu bệnh nhân có các biểu hiện khó thở, tím tái (phù) do suy tim có thể xuất hiện thường xuyên hoặc sau khi gắng sức như: lên cầu thang, lao động chân tay,... cần thông báo cho thầy thuốc và để bệnh nhân nằm nghỉ ngơi tuyệt đối tại giường nhằm giảm nhu cầu về ôxy và dinh dưỡng của cơ thể. Hạn chế đi lại cho những bệnh nhân khó thở khi gắng sức.

Có thể cho bệnh nhân ăn nhẹ, ăn các loại thức ăn dễ tiêu và đầy đủ dinh dưỡng, vitamin như sữa, cá... Hạn chế lượng muối và nước bằng cách ăn nhạt và hạn chế uống nước. Thường xuyên động viên, giải thích để bệnh nhân không lo lắng, yên tâm điều trị. Cần để bệnh nhân được nghỉ ngơi, thoải mái cả về thể chất và tinh thần, tránh căng thẳng về thần kinh. Phòng nằm của bệnh nhân phải đảm bảo yên tĩnh, thoáng mát, có đầy đủ tiện nghi sinh hoạt.

Nếu bệnh nhân là trẻ nhỏ có thể để trẻ nằm ở tư thế Foller đối với trường hợp khó thở, tím tái nhiều và thường xuyên, nhằm làm giảm lượng máu ứ đọng ở phổi. Bệnh nhân nên ăn những loại hoa quả có nhiều kali trong suốt thời gian dùng thuốc lợi tiểu và digoxin.

Nếu bệnh nhân đau mỏi khớp, vận động khó khăn (sưng, nóng, đỏ) cần để bệnh nhân nằm nghỉ ngơi ở tư thế chùng cơ, giảm căng bao khớp, hạn chế vận động khớp ở mức thấp nhất, hướng dẫn cách đi lại, vận động để có thể giảm đau cho người bệnh.

Ngoài các thuốc chống viêm, người bệnh còn phải dùng các vitamin nhóm B như B1, B6, B12 và thuốc an thần, kháng histamin như dimedron. Phải có người thường trực chăm sóc cho bệnh nhân nhằm giúp bệnh nhân đi lại, vệ sinh, ăn uống,...

Nếu bệnh nhân sốt, đau họng do viêm nhiễm ở họng hoặc amiđan, cần theo dõi thường xuyên bằng cách đo thân nhiệt và cho dùng thuốc hạ sốt khi thân nhiệt tăng cao trên 38,50C. Ngoài việc uống thuốc và theo dõi nhiệt độ thì hằng ngày bệnh nhân thường xuyên vệ sinh răng miệng, tránh nhiễm lạnh, ăn uống đầy đủ các chất nhằm nâng cao sức đề kháng của cơ thể.

Do bệnh hay bị tái phát nên cần điều trị dự phòng bằng cách thực hiện nghiêm ngặt việc tiêm phòng bệnh thấp tim như: tiêm penicilin benzathin được bắt đầu ngay sau khi kết thúc 10 ngày dùng benzylpenicilin. Các mũi tiêm phòng cách nhau 21 ngày. Thời gian tiêm phòng phải đảm bảo được 5 năm trở lên và cho đến khi bệnh nhân tròn 23 tuổi. 

Ai dễ mắc thấp tim?

Thấp tim chỉ xảy ra sau khi trẻ bị viêm họng, viêm amiđan do liên cầu khuẩn tan huyết nhóm A. Không phải là bất kỳ trẻ em nào nhiễm liên cầu khuẩn tan huyết nhóm A cũng bị bệnh thấp tim. Trong số 90-95% trẻ em bị viêm họng do liên cầu, chỉ có 0,2-3% trẻ bị thấp tim. Những yếu tố nguy cơ là: độ tuổi (thường gặp ở trẻ từ 7-15 tuổi), nhất là trẻ từ 9-12 tuổi. Thấp tim thường gặp ở trẻ có cơ địa dị ứng như hay bị mề đay, hen phế quản, chàm. Bệnh thường gặp ở vùng có điều kiện sinh hoạt thấp, nhà ở chật chội, vệ sinh kém, kinh tế khó khăn. Có khí hậu lạnh, ẩm...

Ngoài ra, bệnh cũng có yếu tố gia đình, theo các tác giả thì có từ 5,8-73,3% bệnh nhân thấp tim, trong tiền sử có người nhà (bố, mẹ, anh chị em ruột) cũng bị thấp tim.

PGS.TS. Nguyễn Văn Tiến

 

 

Bạn quan tâm
Loading...
Bình luận
Bình luận của bạn về bài viết Cách chăm sóc bệnh nhân thấp tim

Gửi bài viết cho tòa soạn qua email: bandientuskds@gmail.com

ĐỌC NHIỀU NHẤT